MTNCD logo chinh 2
donate

Những Khó Khăn

Cách Giải Quyết

Ban Điều Hành

Những Thành Quả

Cách Giúp Đỡ

Tình Người

Trang Tiếng Anh

eyes of compassion logo for thanking letter final

RELIEF ORGANIZATION

Mổ Mắt

Hệ Thống Nước Sạch

Giếng Nước

Bể Nước Mưa

Lu Nước Mưa

Xây Dựng Cơ Sở

Trạm Xá

Trường Học

Nhà Tình Thương

Nghĩa Địa Thiếu Nhi

Nhà Điều Dưỡng

Cầu Cống

Thiên Tai

Bảo Ketsana 2009

Trường Huấn Nghệ

Bệnh Hiểm Nghèo

Mổ Tim

Cháy Bỏng

Khẩn Cấp

Tâm Thần

Bệnh Phong

Viện Dưỡng Lão

Bảo Trợ

Trẻ Em Khuyết Tật

Tăng, Ni Du Học

Y Học Dân Tộc

T.T.Đ An Lạc

Tây Tạng

Học Bổng

Cải Thiện Đời Sống

Phát Quà

Phát Thuốc

Lào (Phonsavan Say)

Thành Quả ở Lào

Trường Na Khôi

Trường Khe Mương

Trường Loong Hang

Mương Nước

Phát Quà

Trạm Y Tế

Trường Xúc Xám

Trường Khon Than

Bể Nước Vang Mú

Nepal

Miến Điện

Làng An Bình

Đạo Tràng Pháp Hoa

Ya Chiêm

Ấn Độ

Cam-Pu-Chia

Cuộc Sống

Phát Quà

Xây Trường Mới

Sửa Trường Củ

Phóng Sanh

Góp Nhặt

Quý vị có thể gởi tịnh tài giúp đở về  văn phòng “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” ở địa chỉ 52 Evelyn Wiggins Dr. Toronto ON M3J0E8 Canada. hoặc giúp đở trực tuyến bằng Paypal.  Quý vị có thể giúp cho chương trình từ thiện nào cần thiết nhất, hoặc yêu cầu thực hiện những chương trình mà quý vị mong muốn. “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” là tổ chức từ thiện bất vụ lợi với số đăng ký trừ thuế 88930 2006 RR0001, chúng tôi có đủ pháp lý cung cấp giấy khai thuế cuối năm cho quý vị trong lãnh thổ Canada

 Mọi đóng góp và thắc mắc xin liên lạc về: Eyes of Compassion

General Express logo

Int’L General Express Inc.

Phone: 416-591-6363

Nơi chuyển tiền đáng tin cậy.  Đã giúp MTNCĐ chuyển tiền từ thiện miễn phí trong thời gian qua

Chuyển tiền về Viet Nam, Trung Quốc, Campuchia

Cuộc Sống

Phát Quà

Xây Trường Mới

Sửa Trường Củ

Báo Cáo

bien ho 2

Bản Kiến Nghị Về Công Tác Từ Thiện Ở Cam-Pu-Chia

hinh anh cuu tro 2

Khí lạnh từ máy điều hoà đánh thức tôi dậy, tôi đã có một giấc ngủ thật ngon, dài và sâu, không còn biết trời trăng gì hết. Sau chuyến đi Cam-pu-chia 8 ngày tôi thấm mệt do di chuyển nhiều và bị ảnh hưởng gió bão trong thời gian đi thăm đồng bào Việt Kiều tại Biển Hồ. Tôi ngủ qua đêm trên những chiếc ghế nối liền nhau tại phi trường Thái Lan để ngày mai đi tiếp qua Ấn Độ. Bây giờ là 4 giờ sáng, tôi hạnh phúc trùm người trong chiếc khăn choàng để viết lại vài mẩu chuyện nhỏ về cộng đồng người Việt yêu thương đang sống trên Biển Hồ.

Những gì tôi nghĩ về cuộc sống của đồng bào Việt Nam tại Biển Hồ trước khi đến đây hoàn toàn khác với sự thật. Những suy luận trước đây mang đến cho tôi cái nhìn bế tắc khi thương nghĩ về đồng bào của mình. Chuyến đi đã cho tôi hiểu rõ hơn những sinh hoạt chính tại đây và cho tôi cái nhìn tích cực. Tôi nghĩ rằng nếu cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại và trong nước có quan tâm đến họ thì chúng ta vẫn còn cơ hội để giúp họ thoát khổ và thoát được cuộc sống bấp bênh như hoa lục bình trôi sông trong những thập niên qua. Tôi cũng biết rất rõ rằng những gì tôi góp nhặt trong 10 ngày không đủ để hiểu được sự thật tại đây, còn rất nhiều điều tôi cần được học hỏi.

Xin chọn Album hình cứu trợ trên vòng tròn ở giữa và bấm vào mũi tên để xem slide show

xa Chong Khia 2
Anh mat tuoi tho web

Đại diện hai nhóm từ thiện Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời, và Brighter Days (BD) Foundation đã cùng phái đoàn từ thiện chùa Giác Nguyên do thầy Minh Phú tổ chức, với sự có mặt của 150 người tham dự.

Địa điểm đầu tiên chúng tôi đến là xã Chong Khnia, tỉnh Siem Reap, có khoảng 360 gia đình, dân số khoảng 3000 người. Tại đây đoàn từ thiện chùa Giác Nguyên, tặng 350 phần cho người Việt Nam, và 150 phần cho đồng bào nghèo người Khmer. Như bao cộng đồng Việt Nam khác trên khắp Biển Hồ thì một số đông đồng bào của chúng ta tại đây vẫn còn nghèo lắm. Ưu điểm của xã là nằm ở vùng dễ đi lại bằng đường bộ, có nhiều du khách viếng thăm nên cũng được ơn mưa móc. Trong năm 2008, xã nầy đã 3 lần được ban từ thiện chùa Giác Nguyên do thầy Minh Phú đưa Phật tử đến thăm và phát quà. Tại đây thầy Minh Phú đã cho dựng một ngôi chùa bằng tole và thỉnh được một tôn tượng Quan Âm lộ thiên để bà con đến lễ bái.

Các em nhỏ tại đây thích đi học, thích được tập hát, ăn nói lễ phép. Trong khi chuẩn bị để phát quà, thầy Minh Phú có nhờ tôi ra sinh hoạt với thiếu nhi. Tôi tập hát, các em thích lắm, những cái môi chu dài ra để đuổi theo nốt nhạc thật là dễ thương. Có những em hát lớn với khuôn mặt rạng rỡ nụ cười tươi hồn nhiên như những thiên thần tí hon. Có những em thì nét mặt căng thẳng vì không theo kịp các bạn nên không hát mà hét để lấy tự tin. Các cô chú tí hon của chúng ta đã trình diễn cho bà con đến nhận quà đang chờ đợi những bản đồng ca với nhiều bè khác nhau, đứa trước đứa chạy theo sau, như là một ban hợp ca chuyên nghiệp.

Tôi hỏi chuyện để biết về trình độ hiểu biết của em về quê hương Việt Nam.

Tôi hỏi một cậu bé: “bố con tên gì?”
Cậu bé không hiểu, đứng ngơ ngác nhìn tôi.
Một bác gái đứng bên cạnh giải thích cho em: “bố là ba đó, ba mầy tên gì?”
“Dạ, ba con tên Thiện” 
Tôi hỏi tiếp: “ba con họ gì?”
Cậu bé cũng không hiểu. Bà con Việt Nam tại đây nói cho tôi biết là các cháu nhỏ ở đây ít đứa biết họ là gì đâu, chỉ biết tên thôi.
Tôi hỏi tiếp: “các em là người gì, Khmer hay Việt Nam?”
Tất cả đồng thanh trả lời: “dạ Việt Nam”
“Vậy các em biết gì về Việt Nam nói cho cô nghe xem nào”
Thật là dễ thương khi các em trả lời: “dạ, không biết”

Dễ thương nhưng đáng thương quá, dạ con là người Việt Nam, và con không biết gì về đất nước Việt Nam hết. Vì sao vậy, chúng ta có thể ngừng tại đây để suy nghĩ sâu vấn đề nầy. Qua đây chúng ta có thể thấy rằng, ngoài việc xây trường để dạy các em văn hoá, chúng ta nên có bổ túc nhẹ về lịch sử, địa lý và văn hoá Việt Nam.

Cuối buổi sinh hoạt tôi hỏi một chú bé: “nếu cô có quà cho các em thì các em thích gì nhất?”
Chú bé trả lời: “dạ, gạo”, một em khác thêm “dạ, truyện tranh thiếu nhi.”

Đây cũng là địa điểm đầu tiên chúng ta sẽ tặng một ngôi trường. Hiện tại nơi đây đã có một ngôi trường đang dạy tiếng Việt cho 148 em, mỗi em đóng 300 ria (riel) (4000 riel = 1 USD), em nào thuộc gia đình nghèo thì được miễn phí. Mỗi ngày 3 lớp, sáng, chiều và tối. Được hai thầy giáo đứng lớp đó là thầy Nguyễn Văn Tư, sinh năm 1937, và em Nguyễn Minh Luận, sinh năm 1986. Thầy Tư qua đây dạy được hai năm. Thầy đã đến đây 10 năm về trước để dạy các em một thời gian ngắn, sau đó về Việt Nam giúp vợ kinh doanh, bây giờ lớn tuổi thầy trở lại đây để tiếp tục giúp các em, vợ và các con vẫn còn sống ở Việt Nam. Em Luận quê ở Tây Ninh, đến đây được khoảng 1 năm. Luận đang sống với ông bác ruột tên là Dũng, một ngư dân trên biển hồ. Bác Dũng khuyên Luận qua đây sống để giúp dạy học cho các em. Bác cho Luận ở trong nhà và ăn uống, bác nói là: “ba mẹ cháu lo nuôi ông bà nội thì bác nuôi cháu, không có gì cháu phải thắc mắc”. Luận nói hồi mới qua thì buồn và nhớ nhà, bây giờ đã từ từ làm quen được với đời sống ở đây. Tại đây thầy Tư được dân làng nuôi, thầy ở tại trường học, đến bữa thì qua nhà dân ăn, dân làng ở đây sẵn sàng cung cấp bữa ăn và miễn phí để thầy có thì giờ dạy học. Theo em Luận nói thì số tiền học phí nhận được từ học sinh thường được dùng vào tiền đổ dầu để đưa các em đi học. Trong thời gian làm việc gần hai tiếng chúng tôi đã gặp 3 lần viếng thăm của du khách nước ngoài, có người tặng tiền có người đem theo tập vở cho các em. Đoàn của chúng tôi thì có thầy Minh Phú gửi đến cho các em sữa và tập vở. Điều nầy để thấy rằng sinh hoạt của trường nầy có nhiều ưu tiên nhất trong tất cả các trường chúng tôi đến thăm trong những ngày kế tiếp.

Ngôi trường nổi này dài 12 m, rộng 6 m, đã sử dụng trên mười năm, tường làm bằng ván, mái tole, đang bị vỡ nứt nhiều nơi do sự tàn phá của nước vào ván và tre. Cộng đồng Việt Nam tại đây khá đông, theo đó số con em cần được đi học còn nhiều những hai thầy không nhận thêm vì không có chỗ cho các em ngồi. Một bàn học nhỏ đủ chỗ cho 2 em thì phải ngồi từ 3 đến 4 em. Bàn không đủ chỗ để bỏ tập vở lên bàn đừng nói là có chỗ để các em bỏ cánh tay lên mà viết. Ưu điểm ở đây là có hai thầy giáo, nếu chúng ta giúp thêm trường học thì sẽ san sẻ học sinh ra làm hai trường. Hiện tại hai thầy đang dạy học sinh các lớp 1, 2, 3 và 4. Dự định có thêm một trường nữa thì hai thầy sẽ dạy thêm lớp 5 và lớp 6. Thầy Minh Phú quyết định cùng Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời tặng nơi đây một trường học.

Hai anh em lái đò, đưa chúng tôi từ trường học ngoài Biển Hồ trở lại đất liền để lên xe về khách sạn, tâm sự: “cháu không biết cha mẹ cháu quê ở đâu, ba mẹ cháu có 15 đứa con, các em bây giờ may mắn nên được đi học. Ngày xưa, 10 năm về trước, không có trường, tụi cháu không có đứa nào biết chữ”

benh vien Krek

Địa điểm kế tiếp Ponhea Krek Referral Hospital, nơi chúng ta cho mổ 300 ca mắt cho đồng bào mù loà người Khmer và Việt Nam. Chúng ta mượn bệnh viện của huyện Ponhea Krek. Đoàn bác sĩ chuyên khoa mắt đến từ thành phố Hồ Chí Minh, gồm 3 bác sĩ và 1 y tá, do bác sĩ Nguyễn Xuân Vũ làm trưởng đoàn. Cô Phạm Ngọc Nữ có phòng giải phẫu thẩm mỹ đi theo giúp công việc chuẩn bị cho bệnh nhân trước khi vào phòng mổ. Đoàn mang theo 3 hệ thống kỹ thuật mổ mắt Phako (tên viết đầy đủ là Phako-emulsification). Phẫu thuật mắt bằng kỹ thuật này thì vết thương nhỏ, không cần khâu, ít bị nhiễm trùng, hồi phục nhanh, bệnh nhân sẽ xuất viện sớm nhưng chi phí lại đắt. Ngoài ra còn có một số bác sĩ, 3 người thông dịch viên tại địa phương đến làm việc liên tục trong 3 ngày để hoàn tất 300 ca mắt.

Trong phong mo web

Tất cả đều miễn phí, ban tổ chức chỉ trả tiền mua len cho mỗi bệnh nhân là 600,000 VND (1 USD = 17,000 VND) phải mua với số lượng nhiều mới có giá sỉ đặc biệt. Ca mổ mắt nầy nếu được thực hiện tại Sài Gòn thì bệnh nhân phải trả ít nhất 6,000,000 VND. Sau khi mổ xong thầy Minh Phú tập trung bệnh nhân từng đợt khoảng 20 người, giải thích cho họ cách làm vệ sinh cho mắt mỗi buổi sáng để tránh những sự cố đáng tiếc, và sau cùng mỗi bệnh nhân được nhận một gói quà. Một bà cụ sau hơn 10 năm bị từ loà qua mù được mổ mắt từ thiện, chúng tôi hỏi: “thưa cụ, sau khi bác sĩ lấy băng mắt ra cụ thấy ai?” Cụ trả lời: “tui thấy bác sĩ, rồi tui thấy chồng tui, nhưng chồng tui đã già quá, 10 năm rồi, nhìn mãi tôi mới nhận ra”.

Bệnh viện Ponhea Krek nhìn rất khang trang, chúng ta cứ tưởng như là khá lắm. Nhưng thật ra rất nghèo, cơ sở vật chất được một tổ chức từ thiện xây cho, còn mọi dụng cụ y khoa bên trong thì không có gì hết. Thầy Minh Phú đã chu đáo đem theo hai chiếc xe lăn để đem bệnh nhân về phòng nghỉ sau khi mổ xong, và ông giám đốc đã xin để cất lại cho bệnh viện.

Ngoài việc mổ mắt, ban từ thiện chùa Giác Nguyên còn tổ chức nấu cơm chay cho toàn thể bệnh nhân và thiện nguyện viên. Ban trai soạn gồm 3 người bếp chính và 3 người bếp phụ. Trong 3 người chính có một cặp vợ chồng có 3 cô con gái đang sống tại Hoa Kỳ. Ba cô gửi tiền về để anh chị đi làm từ thiện toàn thời gian không cần lo kinh tế gia đình. Không chỉ bỏ công mà gia đình anh chị còn tự nguyện trả mọi chi phí di chuyển, và cúng dường luôn phần gạo để nấu cho bệnh nhân và thiện nguyện trong những đợt mổ mắt. Bên cạnh cặp vợ chồng nầy còn có những mạnh thường quân khác được sự ủng hộ của gia đình, mỗi khi cần tịnh tài đóng góp quỹ từ thiện thì quý vị báo cho các con là: “nạp đạn vào cho mẹ bắn”, vậy là tiền từ nước ngoài được chuyển về cho ba mẹ tiếp tục đi ban trải tình thương đến những mảnh đời cùng khổ. Quả đúng đây là phước báo của người miền Nam, cái gì cũng thoải mái, cha mẹ thoải mái, con cái thoải mái, mọi người trong đoàn lúc nào cũng vui cười thoải mái. Đã nhiều năm qua, tôi thường làm việc ở miền Trung Bắc, lúc nào cũng kham khổ thiếu vắng nụ cười, chưa bao giờ thấy được sự thoải mái trong cuộc sống như sinh hoạt của đoàn lần nầy.

Tổ ẩm thực nầy có những nhân vật độc đáo, như cụ Trần Thị Kính sanh năm 1932, năm nay 76 tuổi mà đã theo thầy Minh Phú qua Cam-pu-chia 4 lần, cụ là người đầu bếp chính thứ 3. Cụ rất khoẻ, mặt luôn tươi cười bên lò ga rực lửa. Cụ vừa nói vừa cười với anh em, tay cụ vừa làm việc liên tục trên chảo khổ qua chiên với trứng. Cách sống của cụ đã cho chúng tôi nhiều sinh lực.

Còn thêm một chuyện lạ. Trong chuyến đi, tôi thấy một bà cụ già với mái tóc ngắn trắng xóa, thỉnh thoảng đến hỏi tôi: “túi nhang của bác còn đó không con? coi chừng nhang gãy nghe con”. Tôi là người ngồi hàng ghế cuối cùng của chiếc xe du lịch 45 chổ ngồi. Được bao quanh bởi những thùng mì ăn liền và hàng hóa, trong đó có luôn nhang của bà cụ đem theo để cúng các chùa nếu có dịp vào lễ bái. Chỗ tôi ngồi đặc biệt như vậy nên có nhiều lúc đang ngủ gật ngon lành thì một thùng mì rớt ngay vào đầu đánh thức tôi dậy. Sau nầy khi sinh hoạt gần gũi tôi được biết cụ pháp danh là Hạnh Ngọc, 80 tuổi. Cụ sống với các đoàn từ thiện là chính, nhà cụ là những chiếc xe đưa bà con đi ủy lạo người nghèo. Trước đây cụ bán căn nhà của mình rồi đưa hết tiền nhờ cô con dâu cất để chi dụng vào chi phí đi theo các đoàn từ thiện và cúng dường Tam Bảo. Cụ nói với cô con dâu: “con đừng cho chồng con biết về số tiền mẹ bán nhà nầy nghe, cất đó để mẹ rút ra từ từ”.

co Meach grey
Co Meach Sotheary web

Cô Meach Sotheary và Diệu Liên trên Biển Hồ

Sau khi làm xong một số công việc từ thiện và viếng thăm những trung tâm du lịch, Diệu Liên, anh Phan Đăng Hoè và anh Nguyễn Kim Hoàng tách đoàn thầy Minh Phú đi tìm đến bà con Việt Kiều tại Biển Hồ. Chuyến đi nầy được cô Meach Sotheary, một viên chức nhà nước Cam-pu-chia đang làm việc cho cơ quan HIV/AIDS Prevention Among Women Work Entertainment Service dẫn đường. Cơ quan của cô là một nhánh trong tổ chức của Hội Phụ Nữ Cam-pu-chia vì Hoà Bình và Phát Triển.

Qua cô Sotheary tôi được biết rất nhiều tin tức và đời sống của Việt Kiều, nhất là sinh hoạt của người Việt Nam hành nghề “gái ăn sương” tại Cam-pu-chia. Trước đây, cũng như người Khmer, có nhiều phụ nữ Việt Nam làm nghề “gái ăn sương” công khai hành nghề tại những vùng có nhiều du khách. Nhưng 2 đến 3 năm gần đây chính quyền đã ráo riết bắt giam và giải tán nhiều nhà chứa. Hiện tại vẫn còn một số nhỏ hành nghề bí mật trong những căn nhà không treo bảng quảng cáo lộ liễu như ngày xưa. 

Cô Sotheary cho biết cái nhìn của hội phụ nữ Cam-pu-chia về người phụ nữ Việt Nam là có khả năng dân trí và nhận thức vấn đề cao hơn phụ nữ người Cam-pu-chia. Khi các cô “gái ăn sương” nầy bị cảnh sát bắt thì người Việt Nam phải chịu hai trọng tội: một là lưu trú bất hợp pháp, hai là hành nghề bất hợp pháp. Nếu là người Cam-pu-chia bị bắt thì phải hối lộ cảnh sát 10 USD, còn các cô gái Việt Nam bị bắt thì phải đút lót cho cảnh sát 20 đến 30 USD. Nhiều cô sau khi bị bắt cho biết là vì nghèo quá và cần tiền để lo cho gia đình trước khi chuyển qua nghề khác nên phải sống bằng nghề nầy, và có rất nhiều cô mong muốn kiếm được tiền để trở về Việt Nam sau khi bị các tú bà lừa gạt đưa các cô vào các nhà chứa. Sau khi bị bắt cảnh sát chuyển các cô về cơ quan HIV/AIDS Prevention Among Women Work Entertainment Service để được giúp đỡ, phần lớn các cô gái này tham gia vào các chương trình dạy nghề và sẵn sàng kiểm tra hay chữa trị các bệnh AIDS một cách tích cực, vì họ biết số phận sống ngoài pháp luật của họ trên đất khách quê người.  

Cô Sotheary có cảm tình sâu đậm với người Việt Nam. Khi nghe chúng tôi muốn đi thăm và tìm phương hướng giúp đồng bào Việt Nam tại Biển Hồ, cô tình nguyện đi theo đoàn để đóng góp những kinh nghiệm và hoạt động của mình trong công việc giúp ngăn ngừa phụ nữ hành nghề “phục vụ” tránh khỏi căn bệnh AIDS và HIV. Tình cảm sâu đậm của cô đến với Việt Nam là vì cô đã mang ơn một người Việt Nam mà cô bị thất lạc gần 30 năm qua. Cô kể rằng trong thời gian chiến tranh cha mẹ và các anh chị lớn bị bắt giam riêng, rồi bị giết chết hết. Còn cô và 5 đứa em thì ở trại giam khác. Tại đây khoảng 40 đến 50 người mỗi ngày nhận 2 lon gạo, đói lắm, một năm 3 ngày Tết mới thấy được vài miếng thịt. Sau chiến tranh, vào năm 1984 cô Sotheary, lúc đó được 21 tuổi, cùng 5 đứa em nhỏ trở về quê ở làng Bung Rô. Cô vào làm ruộng hợp tác, vì chưa hề làm ruộng nên cô phụ giúp người ta, và khi chia lúa thì cô có lúa xay thành gạo cho các em. Về sau người ta chia ruộng cho mỗi gia đình, cô không thể tự mình làm từ đầu đến lúc ra hạt lúa, nên cô đành trả ruộng về chỗ đóng quân của người Việt Nam để xin làm việc. Nhờ là con nhà có học nên cô xin được việc và mỗi ngày cô nhận được gạo về nuôi các em. Trong văn phòng thấy cô có khả năng nên đề nghị cô về thủ đô đi học lớp đào tạo đặc biệt. Cô không dám đi vì còn một đàn em dại không ai nuôi.  Lúc đó có một chú bộ đội tên là Hồ Chu, người quê ở Hà Nội, khoảng hơn 40 tuổi, khuyến khích cô đi học và hứa sẽ lo cho các em của cô. Cô bỏ các em lại và nhờ chú Chu lo rồi lên thủ đô. Nhờ có trình độ, sau khóa học cô được tuyển lựa để ở lại làm việc. Khi có công việc, cô liên lạc về quê, nhờ chú Hồ Chu chuyển các em lên thủ đô rồi đưa các em vào trại mồ côi, gửi trong đó. Một thời gian sau khi cuộc sống ổn định cô tìm về làng để thăm và cám ơn bác Hồ Chu nhưng đoàn quân của bác Chu đã dời đi nơi khác. Trong lòng cô hình ảnh và tình thương của bác Chu đến với gia đình cô trong lúc hoạn nạn đã chuyển thành hình ảnh đẹp của dân tộc Việt và tình thương của bác đã biến thành tình thương của cô dành cho người Việt Nam. Lòng tri ân nhưng không được đền ơn bác Chu đã hướng cô đến việc quan tâm và hết lòng giúp đỡ đến những đồng bào Việt Nam đang sống không hợp lệ tại Cam-pu-chia. Đó cũng là lý do khiến cô đã tình nguyện chịu trách nhiệm hướng dẫn Diệu Liên tìm hiểu về cuộc sống của bà con tại Biển Hồ.

lang kompung Luong
Theo cha me di chai luoi web

cô Sotheary và ông chủ tịch huyện đưa chúng tôi đến địa điểm đầu tiên là xã Kompong Luong tỉnh Pursat. Nơi đây có 2355 đồng bào của 489 gia đình Việt Nam. Ông xã trưởng cho mời bác Kiều Văn Danh là cựu hội trưởng hội người Việt, anh Nguyễn Viết Đạt là một thầy giáo, và anh Hòn trưởng ấp 5 (anh Hòn không biết mình họ gì.) Các anh em ở đây cho biết đã có một vài nhà báo ở Việt Nam qua đến xã để lấy tin tức, và Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời là tổ chức từ thiện hải ngoại đầu tiên tìm đến đây.

Làng có một trường học do thầy giáo Đạt phụ trách, trường nầy do lãnh sự quán Việt Nam tại Cam-pu-chia tặng. Có 145 em đi học từ lớp 1 đến lớp 5, mỗi ngày dạy 5 xuất, mỗi xuất 1 tiếng 45 phút. Mỗi em đi học đóng cho thầy 200 riel một ngày (1 USD = 4000 riel). Nhờ thầy có canô nhỏ đưa đón được 20 em không có xuồng đi học nên số học sinh trong lớp thầy ổn định. Thầy Đạt quê ở Cái Bè, Tiền Giang, sang đây năm 1984 lấy vợ và định cư tại đây.

Mối đoàn kết giữa chính quyền địa phương và đại diện cộng đồng người Việt rất tốt. Người Việt sống tại đây, với số phận tha phương cầu thực, biết sống có trước có sau, nặng ơn nghĩa với người Cam-pu-chia, điều nầy thể hiện qua những ý kiến mang tinh thần nhường nhịn và chia sẻ khi chúng tôi cùng người đại diện hai bên bàn bạc một vài chương trình nhỏ để được chia sẻ sự khó khăn của cộng đồng Việt Nam. Kết quả buổi họp chúng tôi quyết định tặng 230 phần quà cho bà con nghèo người Việt Nam, 120 phần cho bà con nghèo người Cam-pu-chia, mỗi phần 10 kg gạo. Có một số gia đình rất nghèo, từ các xã khác mới đến làng nầy mà chính quyền địa phương chưa vào danh sách nên không được nhận gạo, chúng tôi đã mua thêm gạo để phát thêm cho những gia đình nầy. Tại đây chúng ta còn tặng cho xã một chiếc xuồng máy để giúp đưa cô thầy giáo từ huyện vào làng dạy học, và một số học sinh không có phương tiện đến trường. Với số lương giáo viên làng rất thấp mà mỗi ngày phải trả 20 riel tiền đi xuồng vào làng nên có nhiều giáo viên xin nghỉ dạy. Ngoài khó khăn của giáo viên, có một số học sinh gia đình bận đi lưới không có ai đưa các em đi học, các em phải đứng chờ ghe đi ngang qua nhà để xin theo ra trường học, việc nầy đã làm cản trở việc học tập của các em.

Trong khi bà con tại địa phương chuẩn bị việc phát quà thì chúng tôi chia tay cô Sotheary và mọi người quyết định thuê ghe lớn, với máy lớn an toàn, vượt gió và mưa trong mùa bão đi một vòng Biển Hồ, thăm những cộng đồng người Việt tại đây. Đoàn gồm có 7 người, bác Kiều Văn Danh, đại diện bên hội người Việt đi theo để tìm hiểu nắm lại quy mô dân số, anh Nguyễn Viết Đạt đi theo để cho chúng tôi thăm và nói chuyện với các trường và cô thầy giáo, hai em Hải và Đầy lo lái ghe, anh Hoàng, anh Hoè và Diệu Liên là người từ Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời đi cùng để tìm hiểu cho việc xây trường học, theo dự định anh Hoàng sẽ ở lại để lo công trình xây dựng. Chúng tôi chọn thăm những cộng đồng đông dân và được đồng bào cho biết rằng xen kẽ các cộng đồng lớn thì có một số cộng đồng nhỏ khoảng vài ba chục gia đình nằm khuất trong rừng non ngập nước để tránh gió bão. Có những vùng khi ghe chúng tôi ghé qua thì bà con nhìn chúng tôi với đôi mắt tò mò, họ cho biết đã hai ba năm nay chưa hề có người ngoài làng vào thăm. Vì vậy khi thực hiện các chương trình cứu trợ xin quý vị đừng quên hết lòng quan tâm đến các làng nhỏ nghèo khổ nầy.

NGHÈO KHÔNG CÓ QUYỀN CHẾT: nếu có quý vị nào muốn sống trường sanh bất tử thì xin mời về nhập cư với đồng bào của chúng ta tại Biển Hồ, vì ở đây có câu: Nghèo Không Có Quyền Chết. Khi nghe qua thì ai cũng phải phát cười nhưng nghe kể từng chi tiết nhỏ thì lòng của chúng ta không khỏi bùi ngùi thương xót.

Khi một người qua đời cần phải có 50 USD tiền mua hòm, 75 USD tiền thuê nhà quàn nổi để làm lễ, thân nhân của người quá cố sẽ kéo ghe của mình đến bên nhà quàn nổi để lo việc tang ma, và 100 USD để có đất chôn. Vì muốn chôn trên đất liền với giá rẻ nên có nhiều nấm mộ được chôn theo nhà lầu, có nghĩa là ai chết trước thì chôn xuống dưới, ai chết sau thì chôn lên trên, mỗi huyệt có từ 3 đến 4 hòm chôn chồng lên nhau. Những gia đình nghèo họ chỉ bỏ tiền ra lo việc chôn cất cho ông bà cha mẹ, còn các con của họ khi qua đời chỉ được bó lại và bỏ vào các lùm cây ngoài Biển Hồ. Có gia đình quá khó khăn đến nỗi không có tiền trả tiền đất cho thân nhân nên phải cột hòm có xác chết trên cây chờ đến lúc có khả năng trả tiền đất, có nhiều lúc phải treo hòm vài ba tháng trời giữa trời mưa trời nắng. Câu chuyện có thật là tại đây có một ông cụ khi nghe tin gia đình nào nghèo có người qua đời thì ông chạy đến thăm. Khi thân nhân đang khóc than thì ông hỏi ngay: “có tiền chưa mà chết? có tiền chưa?” Nếu gia đình báo là chưa có tiền thì ông cụ lập tức đi kêu gọi bà con trong cộng đồng, người ít kẻ nhiều đóng góp để giúp gia đình có tiền lo mai táng. Ai nghe ông cụ hỏi cũng phải nực cười nhưng người dân trong làng thì rất trân quý tấm lòng nhiệt tình và quan tâm của ông cụ trong nhiều năm qua đã. Đây là lý do khiến chúng tôi quyết định tìm đất làm nghĩa địa cho bà con vùng Biển Hồ.

Nhiều gia đình trước đây sống vùng kinh tế mới, gặp nhiều khó khăn, theo bà con qua đây tìm cơm áo. Họ nghĩ rằng đi xa kiếm tiền một thời gian rồi trở về quê hương. Nhưng sự thật không như họ nghĩ, vì kiếm sống năm nầy qua năm khác vẫn chỉ là đủ ăn, ước mơ về lại quê hương gần như vô vọng. Có một số gia đình sau khi ông bà cha mẹ qua đời và đã chôn cất phụng thờ tại đây thì lại không muốn bỏ mồ mả về quê vì sợ không ai lo chăm sóc. Thật là một nghĩa cử đáng kính, dù họ là người dân lao động nhưng lòng hiếu của họ là một bài học cho nhiều người.
 

LÀNG SA SON:

Rời Kompong Luong chúng tôi ghé đến Sa Son, có khoản 313 gia đình với 1558 dân trong đó có khoảng 500 trẻ em. Làng có một lớp học do cô giáo Châu Thị Kim Loan phụ trách. Cô Loan sanh năm 1954, từ thành phố Mỹ Tho sang sống ở Biển Hồ được 20 năm. Cô sống ngay trong lớp học rách nát không đủ che nắng che mưa cho cô giáo và học trò trong những ngày mưa bão. Những tấm ván chung quanh lớp học nơi mà các em có thể ra đứng chơi sau giờ học đã bị mục nát, đứng trên đó nếu không cẩn thận sẽ bị lọt xuống nước. Ngay giữa lớp học, những tấm tole đã bị gió bão thổi bay, và những tấm phông ván ép bị nước mưa làm mục nát. Trời mưa xuống, ban ngày các em không có chổ để ngồi học, ban đêm cô giáo không có nơi để ngả lưng. Lời tâm sự trong nước mắt của cô Loan làm chúng tôi luôn vấn vương suy nghĩ, cô nói rằng: “ở đây những đêm mưa bão gió khủng khiếp lắm, tiếng mái tole đánh vào nhau nghe ghê gợn, ngồi đàng trước thì mưa tạt vào cửa sổ, ngồi ở giữa nhà thì ướt nhèm ướt nhẹp, những đêm như vậy tui ngồi khóc một mình trong sợ hãi, chung quanh tối thui, ghe dân làng cách nhau, nếu tui có chuyện gì cũng không ai hay biết, nhà tui lại không có đèn điện, đèn dầu cũng tắt theo với gió bão, may nhờ có hai con chó chạy bám theo tui để an ủi, nếu không có nó chắc tui sợ đến chết”. Vừa nói cô Loan vừa xé nhỏ ổ bánh mì tôi mới lấy ra để thưởng cho hai mẹ con chú chó dễ thương, hai em rất ngoan, mỗi khi thấy thức ăn muốn xin là cả hai đứa chấp tay lạy để năn nỉ.

Tôi được nghe kể rằng cô Loan vì buồn chồng mắc phải bệnh tứ đổ tường nên bỏ xứ ra đi, qua đây tìm nguồn vui trong công việc chăm sóc các em thất học. Dân nghèo cô cũng nghèo theo, 500 trẻ em của toàn làng mà chỉ có 60 đi học được. Vì gia đình nghèo quá các em phải phụ ba mẹ đi lưới mỗi ngày, còn một số có thì giờ đi học thì lại không có xuồng đến lớp. Cô Loan không có xuồng nhỏ đi đưa đón học sinh như thầy giáo Đạt nên số học sinh lớp cô ít hơn nhiều.

Theo tôi, cô giáo Loan là người hiền lương chất phác, tuy nhiên thân phụ nữ tay yếu chân mềm với hoàn cảnh không mấy sáng sủa làm cho khả năng vươn lên của cô không mạnh mẽ như bao thầy giáo khác. Nếu được, chúng ta nên tạo điều kiện để sửa lại lớp học, có đèn điện, cho cô Loan có nơi dạy và sinh sống tốt hơn. Việc làm nầy không tốn bao nhiêu tiền nhưng nói được mối quan tâm của chúng ta đến những giáo viên nghèo hy sinh giúp các em thoát nạn mù chữ. Tuy sức có hạn nhưng sự cố gắng của cô trong 20 năm qua cũng xứng đáng để đón nhận sự quan tâm của chúng ta. Việc làm tuy nhỏ của chúng ta còn giúp cô Loan thoát ra khỏi sự sợ hãi và cô quạnh trong những đêm Biển Hồ lên cơn phẫn nộ.


LÀNG REN TIN (RẠCH DỪNG)


Xế chiều chúng tôi rời Sa Son để kịp giờ đến Rạch Dừng và sẽ ngủ qua đêm tại đây. Trời chiều chuyển gió bão, mưa tạt ướt hết chỗ ngồi, chúng tôi 7 người ngồi dồn về một phía ghe để cùng nhau núp gió và tránh mưa tạt. Càng về chiều Biển Hồ càng nguy hiểm, chiều sâu của mực nước mùa cạn là 2 mét, nhưng mùa mưa như bây giờ là 17 mét, nhìn xuống nước thấy tối thui làm gợi nhớ đến những ngày vượt biên suýt mất mạng giữa biển khơi.
 

323 web

Ngồi họp ở nhà cô Loan

325 web

Cô Loan đang cho 2 chú Chó ăn bánh mì. Chúng nó biết lạy để xin ăn

320 web

Ngôi trường mục nát của cô Loan

327 web

Thầy Tu Lun, một cháu nhỏ, và Diệu Liên

Chạy ngược gió, nên mãi đến tối đen chúng tôi mới ghé vào được địa điểm thứ 3. Thầy Đạt đưa ghe vào cạnh đò thầy Tư Lùn để xin ăn tối và ngủ qua đêm tại đây. Đò thầy Tư nhìn mà thấy sợ, đò đã mục nên nước rỉ vào, thầy dùng bao ni lông bọc chung quanh, nếu không đò sẽ bị chìm. Mái che đò thấp và rách rưới tả tơi, sinh hoạt trong đò chỉ có bò với trượt nên hai chân của những người sống trong những chiếc đò nầy yếu và teo nhỏ đi vì không được sử dụng nhiều, bù vào cho hai tay và vai thì lớn ra.  Đò của thầy Tư Lùn có nhà vệ sinh độc nhất vô nhị trên thế giới. Thật khó tưởng tượng nổi. Đó là 2 thanh gỗ bằng bắp tay, dài 60cm, mỗi thanh treo tòng teng bằng 2 sợi sên xe đạp cuối đò, cạnh nhà bếp. Khi ngồi xổm trên hai thanh gỗ, sợi sên cứ lắc lư, đung đưa như đang ngồi trên võng, anh Hòe nói chỉ có những tay làm xiếc trên dây mới có thể dùng được nhà cầu này! Nhà cầu hình tam giác, diện tích khoảng một phần ba thước vuông, người nhỏ con mới ngồi lọt. Được che bằng mấy miếng gỗ mỏng và bạt, chỉ " kín đáo" từ ngực trở xuống. Ngồi trong đó, bên dưới là dòng nước đen, bên cạnh là bếp và những con chuột qua lại! Khi cần dùng nhà cầu, nhà bếp phải tạm ngưng sử dụng và ngược lại!
Người thành phố có " việc cần" nhìn thấy nhà cầu này chỉ có khóc chứ không thể sử dụng được, song với gia đình thầy Tư Lùn thì nó quá quen thuộc và dễ sử dụng!

Thầy Tư đã 60 tuổi, thầy dạy từ 40 đến 50 em một ngày từ sáng sớm đến 12 giờ khuya. Mỗi em đến học đưa thầy 300 ria. Lớp học của thầy không có bàn ghế chẳng có bảng đen. Các em đến học thì thầy và trò ngồi chùm hủm trên ván đò vừa dạy vừa viết. Thầy phải dạy từng đứa một rất là khó khăn, nên chỉ có 50 đến 60 em mà thầy phải dạy từ sáng sớm đến nửa đêm chưa xong. 

Thầy Tư Lùn vì nhà nghèo không được đi học, thầy biết được 5 chữ 3 câu là nhờ chương trình bình dân học vụ tại Việt Nam, đây là chương trình xóa nạn mù chữ do các học sinh, sinh viên và thiện nguyên viên thực hiện sau năm 1975. Thầy chưa một lần đến trường học nên thầy đâu có biết học trò đi học như thế nào. Có bao nhiêu khả năng về đọc và viết thầy truyền dạy lại cho các em. Trình độ thầy như vậy thì trình độ của học trò không biết góp nhặt được gì, vậy mà thầy và trò đều phải chiến đấu để dạy và để học cho có cái chữ với người ta.

Tôi đã từng là những học sinh giúp xóa nạn mù chữ cho bà con dân lao động, nghe kể lại một chuyện là có hai anh chị đi học bình dân học vụ rồi yêu nhau. Ngày anh nhập ngũ đi ra chiến trường Cam-pu-chia, người yêu của anh đến tiễn chân, anh đưa cho cô ta một cái chai (ch, ai) tức là ch = chờ, ai = ai. Cô gái đưa lại cho anh ta một trái chanh (ch, anh) tức là ch = chờ, anh = anh, đó gọi là mối tình của bình dân học vụ.

Sương khuya xuống thấp, mọi người ngồi lại và kể chuyện cho nhau nghe sau nhiều năm không gặp mặt, rồi tiếng cười nói từ từ lặng yên trong đêm tối. Tôi là người nữ duy nhất trong đoàn, không tham gia cuộc vui cụng chén cụng ly cùng các anh em. Tôi nằm yên trên đầu boong ghe nhìn bầu trời, và những ánh đèn điện bình yếu ớt lờ mờ chiếu ra từ những chiếc xuồng của dân làng chung quanh. Cảnh vật chìm trong sự cô tịch thật là buồn bã, lòng tôi chùng xuống, đưa mắt tìm Đức Mẹ Quán Thế Âm trên bầu trời đen như mực. Tôi thầm trì niệm Đại Bi Thần Chú, nguyện cầu cho chuyến đi gặt hái được kết quả tốt hầu đem nhiều lợi lạc cho đồng bào thương yêu của chúng ta đang lưu vong trên Biển Hồ. Sáng sớm hôm sau, khi mọi người vẫn còn say giấc thì tôi đã lễ lạy, tiếp tục niệm chú Đại Bi. Biển khổ chúng sanh quá lớn, xin nguyện cầu những giọt nước Cam Lồ tưới khắp mọi nơi để xoa dịu nỗi đau của lương dân.

Một phép lạ đã đến ngay sáng hôm sau, có lẽ lời cầu nguyện của tôi đã cảm ứng được lòng của Mẹ Hiền Quán Thế Âm. Sáng hôm đó, trước khi rời làng chúng tôi ghé vào nhà anh hội trưởng hội người Việt để bác Danh xin thông tin về dân số chính thức. Khi anh biết được chúng tôi có ý định xây trường học, anh giới thiệu một căn nhà nổi với diện tích chúng ta cần cho trường học, 16 m dài và 7.2 m ngang, được làm cách đây 3 năm. Ghe bằng gỗ được bọc lưới thép B40 và trét xi măng chung quanh để bảo vệ gỗ khỏi bị mục, thời gian sử dụng có thể trên 30 năm. Chủ ghe là ông chủ hãng gỗ, làm ăn ra nên quyết định đưa gia đình lên đất liền sống. Ông bằng lòng bán căn nhà nổi nầy với giá 11,500 USD và bằng lòng sửa lại tất cả những tấm gỗ nào mình muốn thay. Với kế hoạch sẽ bỏ ra 20,000 USD để xây trường, và phải có anh Hoàng qua ở khoảng 6 tháng để chăm sóc công trình, thì bây giờ chúng ta có được một giải pháp mua lại nhà cũ với giá thành rẻ gần một nữa, tiền lại để mua thêm cái thứ hai. Đây đúng là một giải pháp tuyệt vời. Để có được giá rẻ, tôi đã giấu mặt và nhờ người địa phương giúp mua căn nhà nổi nầy.

Rời Rạch Dừng, chúng tôi lên đường đi vào ấp Rạch Tro có 62 gia đình rồi đến ấp Prêt Karo nghĩa tiếng Việt là Rạch Nghèo, vì dân ở đây nghèo qua mấy đời cũng không vượt lên được, dù dân rất nghèo nhưng tình người thì rất đậm. Chúng tôi ghé vào xin ăn cơm trưa ở nhà người quen em Hải, người chủ ghe chở chúng tôi đi. Anh chủ nhà rất nhiệt tình và hiếu khách, món ăn trưa quý vị trong đoàn yêu cầu là món rắn để nhậu và cá hấp. Khi ăn, các anh rất dễ thương, họ đã dọn cho tôi cá hấp với dưa leo ở mâm riêng, còn anh em thì cụng ly với nồi thịt rắn hấp vừa được bắt lên.

LÀNG BA TÔ

Sau bữa cơm trưa muộn mọi người nghỉ ngơi rồi lên đường sớm. Đang mùa bão, Biển Hồ sóng gió thay đổi liên tục mỗi khi chiều về, rất nguy hiểm nên ghe phải cẩn thận khi chạy băng Biển Hồ qua làng bên cạnh. Ghe vào làng Ba Tô khi trời còn sáng, cộng đồng người Việt ở đây khá đông, có khoảng 260 gia đình với khoảng 500 em ở độ tuổi cần được đi học. Chúng tôi tấp ghe bên cạnh xuồng của thầy giáo Hồ Văn Đông – sinh năm 1962, và mời được thầy Võ Tín - sanh năm 1964 - để tìm hiểu về sinh hoạt lớp học của các em. Đồng thời cũng gặp được anh Trần Văn Bền, trưởng chi hội người Việt tại đây để biết tình hình sinh hoạt cộng đồng người Việt và các vùng phụ cận.

Lớp học của thầy Đông gồm có lớp mẫu giáo, lớp 1 và lớp 2, khoảng 20 em học sinh. Vào năm 1986 thầy đến Sa Son và dạy học cùng lớp với cô Châu Thị Kim Loan hơn 1 năm, đến năm 1999 thầy và gia đình đến Ba Tô và dạy học tại đây. Lớp của thầy Tín có khoảng 64 em, trong đó số em có mặt tại lớp vào khoảng 50 em. Thầy Tín dạy ở trường làng Chong Knia tỉnh Siem Reap từ năm 1994 đến năm 2000, rồi dời về Ba Tô và tiếp tục dạy học ở đây.

Tuy ưu điểm lớn nhất của Ba Tô là có được hai thầy giáo ở độ tuổi tốt nhất để có kinh nghiệm giảng dạy và phục vụ ngành giáo dục, nhưng có một vài việc không thống nhất và rõ ràng trong việc làm của hai thầy giáo nầy, nên chúng tôi thấy không an ổn và không dám có ý kiến gì về việc lập trường học cho địa phương nầy. Nếu muốn làm việc tại đây chúng ta phải bỏ thêm thời gian để tìm hiểu. Tôi biết tại vùng nầy đang có một trường nổi được kéo bất hợp pháp từ Chong Knia, của một vị Linh mục giúp, về lưu trú tại đây. Tại làng nầy có một ngôi chùa nhỏ được thành lập cách đây 2 năm, theo như người trong làng nói thì gần như 100% dân làng đều là Phật tử.


LÀNG KHA LEN

Rời Ba Tô chúng tôi đi vào Kha Len, có khoảng 100 gia đình, nơi đây có một ngôi trường nổi vị linh mục xây rất đẹp. Nghe dân làng nói thì cha đã tốn khoản 20,000 USD cho chi phí vật liệu và 4000 USD cho tiền công thợ. Đúng là như vậy, vì trường nhìn kiên cố với những cánh cửa bằng gỗ tốt. Dân làng cũng cho hay là có trường mà không có cô thầy giáo nên trường đang để không. Chúng tôi mong rằng cha sớm chọn được cô thầy giáo có khả năng để sớm đem lợi ích đến cho học sinh thất học tại đây.


ẤP MẶC LA

Ấp nầy có khoảng 80 gia đình, chưa bao giờ có trường học. Nghe nói có khoảng 10 em đang nhờ em Nguyễn Thị Huệ dạy, mặc dù Huệ không mở lớp dạy, Huệ sinh năm 1986. Chúng tôi cho mời bố của Huệ và Huệ đến để hỏi thăm và tìm hiểu. Huệ kể lại rằng cách đây 3 năm, gia đình em đang ở Khompong Luong, em gái của Huệ được đi học chữ, Huệ không được đi học mà phải ở nhà giúp ba mẹ đi chài lưới. Đêm về nghe em học bài Huệ học theo. Biết được ít chữ Huệ dạy lại cho các em nhỏ trong làng. Huệ rất thích học chữ và mê nghề dạy học, nhưng khả năng của Huệ quá kém, nên chúng tôi đã xin gia đình đưa Huệ về Sài Gòn để nhờ cô giáo Huệ Lan giúp dạy khóa đặc biệt cho Huệ có căn bản trước khi trở về Mặc La để dạy các em. Huệ và gia đình đều rất mừng và bằng lòng ngay, đó là ước mơ lớn nhất của Huệ. Anh Nguyễn Văn Nam, sanh năm 1959, là bố của Huệ vui mừng ra mặt, anh nói cuộc sống của nghề chài lưới khổ lắm, nếu chúng ta tạo điều kiện để Huệ được có chữ và dạy chữ thì còn gì cao quý cho bằng. Sau khi Huệ học xong chúng tôi sẽ tìm cách lập một ngôi trường nhỏ ở đây cho Huệ chăm sóc các em nhỏ.

Rời Mặc La chúng tôi quyết định bỏ địa điểm cuối cùng là Dàm Ban để trở về KhomPong Luong trước khi trời tối. Về lại nơi phát xuất tôi ghé vào chùa Kim Long, do sư cô Thích Nữ Thanh Nguyệt trụ trì, xin ngủ lại. Qua một đêm dài sư cô và tôi chia sẻ công việc Phật sự và từ thiện, được biết chùa Kim Long thỉnh thoảng cũng có được số tiền nhỏ đi cứu trợ cho đồng bào nghèo. Sư cô phát quà theo thứ tự của từng làng nằm dọc theo bờ Biển Hồ.

Sau 3 ngày chúng tôi cùng nhau chung sống trên ghe, lướt sóng nước để học hỏi đời sống của đồng bào. Chúng tôi sống trong tinh thần hoà trên thuận dưới, vui vẻ và chăm sóc cho nhau dù mỗi người đến từ mỗi nơi khác nhau, làm việc với nhau lần đầu tiên.

343 web

Diệu Liên đang trò chuyện với thầy Đông, thầy Tín, ông thôn trưởng và một số anh em

339 web
369 web
388 web

Từ trái sang phải: Em gái, người dạy Huệ tiếng Việt, Huệ, Diệu Liên và Ba của Huệ

336 web

Những cụm rau thơm trồng bằng rong hồ, không trồng bằng đất vì sợ nặng ghe

Trước khi đến Biển Hồ tôi mang theo một cái nhìn bi quan về đời sống dân mình tại đây qua lời kể của một số khách du lịch. Nhưng khi tiếp xúc với thực tế, sống chung và làm việc chung thì cái nhìn của tôi có thay đổi.

Mặc dù đồng bào Biển Hồ có nghèo thật, đời sống sinh hoạt hằng ngày quá thiếu thốn với muôn ngàn khó khăn, nhưng ưu điểm lớn nhất là họ không lười biếng. Họ làm việc ngày và đêm để lo cho gia đình. Nơi đây thiếu tiện nghi nhưng không hề bị chết đói vì lúc nào cũng có cá để ăn và đổi lấy gạo. Số người chúng tôi được tiếp xúc đa số có ý thức trách nhiệm với gia đình và xã hội. Tự biết mình là người sống nhờ trên đất khách nên biết nhường nhịn và tự trọng, biết kính trên nhường dưới.  Đồng bào sống với nhau trong một đại gia đình Việt Nam để bảo vệ cho nhau và được bảo vệ. Các em trẻ độ tuổi 15 đến 25 trông ngoan hiền và lễ phép, biết phụ giúp gia đình và vâng lời cha mẹ. Văn hóa mà các em tiếp nhận được không chỉ là giáo dục trong mỗi gia đình mà đó cũng là ảnh hưởng của giáo dục gìn giữ văn hóa Việt Nam trong cộng đồng. Tôi vui mừng khi biết được phẩm chất cao của phần lớn đồng bào Việt Nam lưu vong trên vùng Biển Hồ.

Ngoài việc giúp đỡ và tạo điều kiện để nâng cao đời sống dân nghèo, chúng ta nên có cách trình bày để bà con hiểu cuộc sống tha phương cầu thực và bất hợp pháp không phải là một cuộc sống lâu dài và an toàn. Giải thích cho đồng bào không nên kêu gọi thân nhân từ Việt Nam qua đây kiếm sống, không nên vì miếng cơm manh áo hiện tại mà không nhìn thấy nguy cơ lớn cho thế hệ con cháu ngày mai. Chúng ta nên tìm hiểu rõ hơn những điều bất lợi để có thể viết ra những bài viết thức tỉnh đồng bào.

Những khó khăn của đời sống dân làng:

*** Con em Việt Nam học xong tiểu học muốn tiếp tục học lên thì phải về trường trung học ở tỉnh Tây Ninh - Việt Nam.

*** Phần lớn đồng bào mang bệnh về mắt và bệnh phụ nữ rất nhiều vì do nguồn nước thiếu vệ sinh, rất ít người bị bệnh ung thư vì thức ăn chính của họ là cá, mặc dù họ hút nhiều thuốc lá và uống nhiều rượu.

*** Phật tử ở đây rất đông nhưng thiếu cảnh chùa để bà con có nơi nương tựa tâm linh. Ghe xuồng nào, dù nhỏ như hộp diêm, cũng có bàn thờ ông bà tổ tiên.

Bodigaya – India – 2008
Tôn Nữ Diệu Liên

Trở lại đầu trang

TONLE SAP LAKE

Sài Gòn ngày 20 tháng 11 năm 2008

Các cộng đồng Việt Nam trên Biển Hồ (Tonie Sap lake)

Chúng tôi đã cùng quý bác và các anh em đang sống tại Biển Hồ đi tròn một vòng quanh Biển Hồ để thăm bà con và cập nhật thông tin. Bản chi tiết dưới đây được chú Kiều văn Danh tóm tắt và ghi chép lại sau chuyến đi của chúng tôi từ ngày 13 đến 19 tháng 11 năm 2008. Tin tức nầy sẽ theo ngày tháng mà mất đi mức độ chính xác vì ngư dân tự ý di chuyển gia đình bằng cách dời thuyền/đò ra đi bất cứ lúc nào khi họ được thân nhân bạn hữu giới thiệu đến những vùng đất mới có cơ hội sinh sống tốt hơn. Chú Danh đã phục vụ đồng bào Việt kiều ở Biển Hồ trên 40 năm, vì chú biết viết và đọc được song ngữ Việt và Khmer, đã ngoài 70 tuổi nhưng lòng nhiệt tình và quan tâm của chú đối với đời sống cơ cực của ngư dây tại đây thì luôn tròn đầy

Luot song web

A./ Huyện Kra Kô, tỉnh Pursat:

1.1. Xã Kompong Luong - ấp 5, khoảng 489 gia đình 2355 người
2.2. Xóm An Luong Ren, khoảng 50 gia đình
3. 3. Rạch Lê Quích, khoản 50 gia đình
4. 4. Ấp Sa Son, khoảng 313 gia đình1558 người
5.5. Xóm Voi Phá, khoảng 40 gia đình
6.6. Rạch Dừng, khoảng 222 gia đình1118 người
7. 7. Som, khoảng 10 gia đình
8. 8. Xóm Om No, khoảng 30 gia đình
9.9. Xóm Đay Nẹt, khoảng 30 gia đình
10. 10. Xóm Rạch Tro, khoảng 40 gia đình

B./ Huyện Môn - tỉnh Battambang

11. 1. Ba Tô, khoảng 260 gia đình
12. 2. Xóm Thái An Sơ, khoảng 100 gia đình
13. 3. Xóm Rạch Tơ, khoảng 50 gia đình

C./ Huyện Siem Reap - tỉnh Siem Reap

14. 1. Xã Chong Khnia, khoảng 360 gia đình3000 người
(nơi nầy có nhiều du khách qua lại nên thường được ơn mưa móc)

15. 2. Xóm Dung Luc, không biết chính xác
16. 3. Kha Len, khoảng 100 gia đình
17. 4. Mặt La, khoảng 80 gia đình

D./ Tỉnh Kampong Thom

18. 1. Dàm Ban, khoảng 35 gia đình

CHƯƠNG TRÌNH TỪ THIỆN

Trước khi về làm việc tại Cambodia, chúng tôi dự định xây 1 trường học nổi cho học sinh Việt Nam mù chử, chi phí 20,000 Usd. Đây là số tiền định gía xây đựng dựa theo giá vật liệu cuối năm 2008. Sau cuộc khảo sát, chúng tôi đã nghĩ ra được việc mua lại những ngôi nhà của những thuyền dân cần bán nhà để dời lên đất liền, nhà đã xây khoảng 3 năm về trước, độ bền có thể kéo dài trên 30 năm. chi phí khoảng 10,000 Usd. Với kế hoạch mới nầy thì  số tiền 20,000 Usd của quỹ xây trường bây giờ đã có thể mua hai ngôi trường và làm một nghĩa địa

1)Mua trường học:

*** Mua lại nhà của một ông chủ buôn bán gổ, vì ông ta dời lên đất liền để sống. Căn nhà rộng 16 m x 7.2 m = 115.2 m2. Nhà được dựng lên cách đây 3 năm, trên hai chiếc xuồng bằng gổ, có bao lưới Thép B40, và ốp xi măng dày 10 ly. Với giá 12,000 usd. Bằng lòng thay hết tất cả những tấm ván/gổ mà mình không thích.

2)Sửa lại trường học:

Hiện tại có trường của cô giáo Châu Kim Loan, rất tệ, cần sửa lại, tốn khoản 1000 usd (DL chỉ đoán vậy thôi)

3)Mua đất làm nghĩa địa:

Có một hetta đất = 4000 usd có thể mua làm nghĩa đị
 

Trở lại đầu trang