MTNCD logo chinh 2
donate

Những Khó Khăn

Cách Giải Quyết

Ban Điều Hành

Những Thành Quả

Cách Giúp Đỡ

Tình Người

Trang Tiếng Anh

eyes of compassion logo for thanking letter final

RELIEF ORGANIZATION

Mổ Mắt

Hệ Thống Nước Sạch

Giếng Nước

Bể Nước Mưa

Lu Nước Mưa

Xây Dựng Cơ Sở

Trạm Xá

Trường Học

Nhà Tình Thương

Nghĩa Địa Thiếu Nhi

Nhà Điều Dưỡng

Cầu Cống

Thiên Tai

Bảo Ketsana 2009

Trường Huấn Nghệ

Bệnh Hiểm Nghèo

Mổ Tim

Cháy Bỏng

Khẩn Cấp

Tâm Thần

Bệnh Phong

Viện Dưỡng Lão

Bảo Trợ

Trẻ Em Khuyết Tật

Tăng, Ni Du Học

Y Học Dân Tộc

T.T.Đ An Lạc

Tây Tạng

Học Bổng

Cải Thiện Đời Sống

Phát Quà

Phát Thuốc

Lào (Phonsavan Say)

Thành Quả ở Lào

Trường Na Khôi

Trường Khe Mương

Trường Loong Hang

Mương Nước

Phát Quà

Trạm Y Tế

Trường Xúc Xám

Trường Khon Than

Bể Nước Vang Mú

Nepal

Miến Điện

Làng An Bình

Đạo Tràng Pháp Hoa

Ya Chiêm

Ấn Độ

Cam-Pu-Chia

Cuộc Sống

Phát Quà

Xây Trường Mới

Sửa Trường Củ

Phóng Sanh

Góp Nhặt

Quý vị có thể gởi tịnh tài giúp đở về  văn phòng “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” ở địa chỉ 52 Evelyn Wiggins Dr. Toronto ON M3J0E8 Canada. hoặc giúp đở trực tuyến bằng Paypal.  Quý vị có thể giúp cho chương trình từ thiện nào cần thiết nhất, hoặc yêu cầu thực hiện những chương trình mà quý vị mong muốn. “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” là tổ chức từ thiện bất vụ lợi với số đăng ký trừ thuế 88930 2006 RR0001, chúng tôi có đủ pháp lý cung cấp giấy khai thuế cuối năm cho quý vị trong lãnh thổ Canada

 Mọi đóng góp và thắc mắc xin liên lạc về: Eyes of Compassion

General Express logo

Int’L General Express Inc.

Phone: 416-591-6363

Nơi chuyển tiền đáng tin cậy.  Đã giúp MTNCĐ chuyển tiền từ thiện miễn phí trong thời gian qua

Chuyển tiền về Viet Nam, Trung Quốc, Campuchia

Cuộc Sống

Phát Quà

Xây Trường Mới

Sửa Trường Củ

Báo Cáo

chuong trinh tu thien vung bh 2009

Bóng đêm dày đặc, tôi tỉnh giấc vì nước ướt người và lạnh. Quái lạ, ngủ khách sạn 5 sao mà mưa ướt? Té ra tôi đang ngủ bên hè chùa Kim Long, ngôi chùa nổi ở Kampong Luong! Đã vào mùa Thu, ngày dù nắng gắt, đêm vẫn có sương rơi, tụ lại trên mái tole rồi hợp thành dòng rót xuống người tôi. Tôi ngủ mơ màng tưởng mình đang bên Hồng Kông!

Sau chuyến đi khảo sát thực tế tháng 11/2008, 9 tháng sau Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời mới có cơ hội quay trở lại với bà con nghèo khó vùng Biển Hồ, Cambodia, nơi có mấy chục làng nổi lấy mặt nước làm đất, thuyền ghe làm nhà; hàng chục nghìn thân phận trôi nổi như bèo lục bình, quanh năm úp mặt trên sóng nước, với những gương mặt lam lũ, đen sạm vì nắng gió, vì cơ cực, vì bệnh tật, vì nghèo khó!

Những mảnh đời bất hạnh, những số phận thiếu may mắn, những đứa trẻ không biết họ của mình, những gương mặt hốc hác, khắc khổ sạm đen vì nắng gió quanh năm lênh đênh trên sóng nước in đậm trong ký ức của tôi sau chuyến đi vòng quanh Biển Hồ năm ngoái cùng chị Diệu Liên, anh Hoàng, thầy giáo Đạt và bác Ba Danh. Những ánh mắt buồn, cam chịu cúi đầu trước số phận song vẫn thầm cầu mong một phép màu kỳ diệu xảy ra…

Những năm trước thực hiện chương trình từ thiện ở Lào, bây giờ là Cambodia. Người nghèo ở Lào có hoàn cảnh khác bà con ở Cambodia. Họ có đời sống đơn giản, hiền lành, thật thà, chất phác và rất dễ thương, như Lão Tử và Trang Tử mong muốn.

Cambodia hoàn toàn khác, một xã hội lộn xộn, ẩn chứa nhiều bất trắc khó lường. Quá khứ đau thương vô cùng tận, ký ức kinh hoàng về thời Khmer Đỏ khiến nhiều người giật mình bởi cơn ác mộng: Người Khmer giết người Khmer! Người dân bị lùa như đàn súc vật ra khỏi thành phố, về vùng thôn quê lao động khổ sai trong những nông trại. Cả đất nước biến thành trại tập trung khổng lồ, thành phố hoang vắng, bất kỳ ai có một chút tài sản, kiến thức là có thể bị “mời đi họp”, và thế là kết thúc cuộc đời! Ruộng nương trở thành những Cánh Đồng Chết – những hố chôn người tập thể sau khi bị hành quyết bằng cuốc xẻng, báng súng quật vào đầu rồi hất xuống hố! Từ 2 – 3 triệu người, khoảng 1/3 dân số thời đó bị Khmer Đỏ giết. Cảm giác của nhiều người là không an tâm khi qua xứ chùa tháp. Tại ở Phnom Penh người ta đang xét xử tên diệt chủng Khieusam Phon thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tế. Khmer Đỏ làm cho ai cũng khiếp đảm, đến bây giờ Cambodia đã bình yên nhưng nhiều người vẫn chưa dám tới đây.

Ba người bạn muốn đi theo tôi trong chuyến đi này để biết xứ chùa tháp, nhưng phút chót tất cả đều rút lui! Họ nói sợ! Họ ái ngại, sợ hãi cho tôi, vì biết tôi đem theo số tiền khá lớn để thực hiện chương trình từ thiện. Tôi đùa chuyến đi không đến nỗi nguy hiểm như Kinh Kha đi gặp vua Tần đâu! Sống chết có số, sợ chẳng ích gì! Tôi phó thác số phận cho Trời Phật! Tôi đã vô tận sào huyệt thổ phỉ ở Khệt Phi Xệt Xay Xổm Bun của Lào và ngủ trong đó; giắt trong người hàng chục nghìn đô la đi bộ xuyên rừng rồi sống lăn lóc cùng bà con ở Lào mấy tháng để làm trường học, bể nước, trạm y tế có sao đâu.

Tôi đã qua Cambodia 3 lần, tới một số tỉnh mấy năm về trước. Lần này phải qua Thái Lan gia hạn hộ chiếu, vì tôi chỉ được phép lưu trú trên đất Cambodia mỗi lần 2 tuần. Qua Thái Lan ở Poi Pet là gần nhất, vùng đất vô cùng phức tạp hội đủ dân tứ chiếng về đây. Cô Bảo Vy người Gò Vấp làm thông dịch tiếng Anh và Hoa cho một Casino của Mã Lai dặn tôi tốt nhất không nói tiếng Việt ở đây. Tôi có thể dùng tiếng Thái hoặc Lào. Ai hỏi đừng nói người Việt. Tôi ngạc nhiên nhưng Bảo Vy không giải thích. Nhớ lần tôi tới Kampong Thom, quen cô Thủy người Việt lấy chồng Cambodia là Xiêng Ly, hai vợ chồng chở tôi đi ăn lòng bò chấm bù hóc trộn trứng kiến vàng, món đặc sản nổi tiếng xứ chùa tháp, cũng dặn tôi không nói chuyện bằng tiếng Việt. Có khi tôi quên hỏi Thủy bằng tiếng Việt, Thủy gắt: “Ông nội ơi, dặn rồi, đừng nói tiếng Việt nguy hiểm lắm! Nhìn ông ai cũng hỏi người nước nào, không phải người xứ này, nhưng họ không biết người Việt đâu”.

Qua Kampong Luong một thời gian tôi mới hiểu tại sao nhiều người VN vẫn thất kinh khi nói tới Cambodia! Ông Tư Sơn, buôn bán xăng dầu thuộc hàng giàu có ở đây, thời Pol Pot ông còn trẻ bị thất lạc gia đình khi chạy giặc. Rồi qua Đồng Tháp tỵ nạn. Sau khi yên ổn trở lại đây làm ăn và lập gia đình. Mới đây cha mẹ ở Mỹ biết được ông còn sống, về Cambodia tìm, nhưng cha ông ở lại khách sạn tại Phnom Penh, gọi ông lên đó gặp, không dám tới Kampong Luong thăm con cháu, vì sợ…chạy không kịp! Nguyễn Văn Hải, chủ tiệm vàng ở đây cũng cho hay mấy người chú bác, cô dì trước đây đều ở Biển Hồ, sau chạy giặc về Đồng Ban, Tây Ninh ở lại đó luôn, đã trên 20 năm vẫn không dám quay lại thăm bà con ở Cambodia! Ký ức về thời kỳ Khmer Đỏ làm bất kỳ ai cũng thất kinh! Hai anh em Tân và Trúc Linh rất ngoan hiền, thường giúp đỡ tôi khi ở đây, 10 năm trước tàn quân Pol Pot đốt nhà, cướp của, giết người, lúc Tân và Trúc Linh còn nhỏ, nửa đêm thấy nhà cháy bỏ chạy thoát thân không còn mảnh áo quần. Chị gái Tân đang ngủ bị lính Pol Pot túm được quăng khỏi giường làm gãy chân, bây giờ vẫn đi cà nhắc! Nay Tân đã 17 tuổi, thấy tôi đọc sách tiếng Việt cứ hỏi “ Bác Ba đọc được chữ Ăng Lê?”, tôi thấy cay cay trong mũi!

Thỉnh thoảng tàn quân Pol Pot vẫn cướp bóc, hãm hiếp, đốt nhà và giết người. Lính Khmer Đỏ giết người, nhai gan sống! Ai đã tới cánh đồng chết gần sân bay Pochentong, nhà tù Tuol Sleng, trước kia là trường học và bây giờ là bảo tàng ngay trung tâm thủ đô Phnom Penh hay chùa Phi Lai ở Ba Chúc, An Giang cũng phải toát mồ hôi lạnh bởi kiểu giết người man rợ của Khmer Đỏ! Có rất ít hộp xương sọ còn nguyên vẹn, đa phần bị nứt, vỡ toác do bị hành quyết bằng cách quật báng súng vào đầu! Trẻ em bị tụi lính nắm chân quật đầu vô gốc cây thốt nốt bể sọ; hai tên lính cầm hai chân xé toạc thân làm đôi; tung đứa trẻ lên cao như trái banh rồi lấy lưỡi lê hứng! Tụi lính sau khi hãm hiếp phụ nữ còn dùng gậy đâm vô chỗ kín cho đến chết! Nhưng cách giết người mà lính Pol Pot ưa thích là trói chặt nạn nhân, mổ bụng cho bộ lòng trào ra ngoài, bắt họ nhìn cho đến khi tắt thở!

Ở Kampong Luong nhiều người biết thằng Lưa, hắn đã tới đây chơi, bây giờ hàng ngày vẫn uống mật người phơi khô cho đỡ nhức mình! Hắn nuôi cá bống tượng ở Bomây, gần Bacpơria, tỉnh Battambang. Hắn giết người lấy mật phơi khô hàng trăm cái để dành dùng dần! Hắn kể lấy mật chỉ cần 1-2 nhát búa là xong, rồi cắt miếng gan nhai sống, nạn nhân chết một cách từ từ và hết sức đau đớn sau khi bị cắt gan mật khoảng 1 giờ! Hắn xẻo ngực phụ nữ nướng để nhậu! Hắn kể chuyện giết, ăn thịt người như đồ tể kể chuyện thịt heo vậy. Hắn là “mê”(chỉ huy), được lệnh cấp trên “làm cỏ” một huyện. Sau bầu cử năm 2003 hắn ra hàng và sống phây phây cười vào mũi công lý! Hắn còn bắt bà con trong vùng đi lượm xương những người bị giết, đem về chất đống trong một ngôi chùa hoang. Ngôi chùa không chứa hết xương tràn ra ngoài. Hắn làm thế có ý cho bà con sợ hãi hắn!

Đi máy bay từ Sài Gòn qua Phnom Penh chỉ 45 phút, nhưng tôi đi bằng xe đò để mang theo sách giáo khoa và thuốc tẩy giun sán (thuốc xổ lãi). Nhờ Trời Phật, mọi chuyện đều tốt lành khi làm thủ tục qua biên giới, không ai làm khó dù tôi mang theo nhiều tiền và hành lý…

Biển Hồ, tên gọi chính thức là Tonle Sap. Nằm giữa đất nước Cambodia, dài khoảng 100km, rộng khoảng 75km, diện tích khoảng 3000km2 vào mùa cạn, và lớn gấp 10 lần vào mùa nước nổi. Độ sâu khoảng 1,5m mùa cạn và gấp hơn 10 lần khi nước dâng cao. Đây là vựa cá nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á, cung cấp ¼ triệu tấn cá mỗi năm. Bà con vùng Biển Hồ sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá. Cho dù có rất nhiều nghề trên biển, như đóng, sửa xuồng ghe, làm máy, làm nước đá…nhưng hết thảy đều phục vụ cho việc đánh bắt cá trên biển. Gọi là biển, bởi bên này bờ không nhìn thấy bên kia, khi chạy ghe ra giữa hồ cũng chẳng thấy đâu là bờ nữa; vì quá rộng, mênh mông bát ngát nên hồ được bà con gọi là biển – “Tonle Sap” có nghĩa là “biển lạt”, “biển nước ngọt”. Có 5 tỉnh bám quanh Biển Hồ: Bờ bắc là Kampong Thom, Siem Reap; bờ nam là Battambang, Pursat, Kampong Chnăng. Xung quanh biển là rừng, chủ yếu là cây lộc vừng mà ở VN coi là cây cảnh rất có giá trị, hàng triệu cây lộc vừng cổ thụ, chịu ngập nước như cây đước vùng duyên hải, còn lại là cây tạp và những bụi cây lúp xúp. Có cả rừng điên điển bát ngát, bông vàng rực vùng tiếp giáp biển trong và biển ngoài. Tonle Sap gọi là biển ngoài hay biển lớn; còn có một biển trong nhỏ hơn gọi là Tonle Sma, thuộc tỉnh Kampong Thom, bằng nửa hồ Trị An ở Đồng Nai. Hai biển thông nhau qua một con sông ở Long Đơn, như Đại Tây Dương và Địa Trung Hải thông nhau qua eo Gibranta.
Cá Biển Hồ ngày xưa nhiều lắm, những người lớn tuổi kể rằng, đứng trên ghe nhắm mắt  phóng sà di (chỉa cá) xuống nước thế nào cũng dính cá! Hồi đó chưa có xuồng ghe máy, toàn chèo tay, mái chèo khua trúng đầu cá lộp cộp! Người ít, cá nhiều, nhưng không ai ham bắt, vì chẳng biết bán cho ai. Đường sá xa xôi, đi lại rất khó khăn, từ Kampong Luong về Phnom Penh ròng rã một ngày đường. Làm cá phơi khô đem bán có khi không đủ tiền lộ phí.
Chiến tranh kết thúc tháng 4/1975, tiếng bom rơi đạn nổ vừa dứt, khói súng chưa tan, người dân chưa kịp ăn mừng chính quyền Lon Nol bị lật đổ, thì Pol Pot đã lùa tất cả họ về nông thôn như đàn gia súc, số bị giết, số chết dần chết mòn vì lao động khổ sai và kiệt sức vì đói; không bệnh viện, không trường học, không chợ búa, không tiền, không tất cả! Chỉ có nhà tù và hố chôn tập thể - bây giờ gọi là những Cánh Đồng Chết!
Ai trốn thoát thì lên rừng núi hoặc chui lủi trong bưng, trong rừng quanh Biển Hồ. Càn quét hết thành thị, Pol Pot xua quân lùng sục trên Biển Hồ, bắt được ai là đập đầu quăng xác xuống biển, vì thế đã có thời kỳ người dân Cambodia gọi Tonle Sap là “ Biển máu”!
Sau khi chế độ diệt chủng bị xóa bỏ, bà con lũ lượt quay về Biển Hồ. Cá nhiều, dễ làm ăn, không bao giờ lo đói, không có gạo thì luộc cá ăn thay cơm, nên bà con rủ thêm nhiều người qua đây kiếm sống. Để bớt sợ hãi khi có đông người, tối lửa tắt đèn có nhau, nên bà con sống thành từng cộng đồng, gọi là làng nổi. Người Việt chịu khó và đánh cá rất giỏi, hơn hẳn người Cambodia. Nghèo khó, vất vả, uống rượu và hút thuốc kinh khủng, nhưng họ không bị bệnh ung thư, có lẽ do ăn cá nhiều.
Nhiều người lớn tuổi ở đây cho rằng bà con đã quá quen cuộc sống ở Biển Hồ với nghề chài lưới, nên khi chạy về Việt Nam tỵ nạn không quen sống trên đất liền, nên bị bệnh nhiều lắm, nhất là sốt rét. Cũng không biết làm gì trên đất liền, nên bà con rủ nhau quay trở lại khi tiếng súng vừa dứt. Hải kể rằng: “Hồi đó Tía em ở Rạch Tơ, cả nhà chạy giặc về VN bằng xe bò, mất tháng rưỡi mới tới Tân Châu, Tây Ninh. Nói là đi bằng xe bò, nhưng mọi người phải lội bộ, xe bò chở đồ.”
Vùng Biển Hồ có ít nhất là 30 làng. Làng lớn cả nghìn gia đình, làng nhỏ vài chục nhà, trung bình là 50 – 100 gia đình, cá biệt có vài làng không tới 20 nhà. Bà con sống trên ghe như dân vạn đò ở Việt Nam, như những bè nuôi cá basa, cá tra ở An Giang, Đồng Tháp. Họ sống trôi nổi như bèo lục bình, nước lên thì kéo nhà vô trong rừng ẩn nấp tránh sóng lớn, nước xuống lại kéo nhà ra khỏi rừng. Luôn luôn gắn bó với biển, vô ra theo con nước. Họ sinh ra, lớn lên trên biển; làm việc, ăn uống, ngủ nghỉ, sinh hoạt và chết cũng trên biển. Số phận của những cư dân các làng nổi cũng lênh đênh, chìm nổi và bấp bênh như những con đò trong sóng gió!

Mới có 9 tháng mà biết bao thay đổi. Khi tôi tới Kampong Luong thì thầy giáo Đạt đã nghỉ dạy 2 tháng, cùng bác Ba Danh đi làm cột phát sóng điện thoại di động ở tỉnh Banteay Meanchay, gần Thái Lan. Mọi chuyện tôi phải tự lo liệu. Kampong Luong là làng nổi lớn nhất Biển Hồ, thuộc tỉnh Pursat, ước tính khoảng 1000 gia đình, người Việt khoảng 50%. Trước đây kiếm ăn còn dễ, có cả nghìn gia đình VN sinh sống vùng này, khoảng 5 năm nay mưu sinh khó khăn bà con về VN hoặc kéo nhà đi vùng khác. Vùng Biển Hồ không ai biết chính xác số hộ gia đình từng làng nổi, vì họ sống lênh đênh trên ghe, thích thì ở, không thích thì đi nơi khác. Đa phần bà con không có giấy tờ gì chứng minh họ tồn tại, nên sống đâu cũng thế mà thôi! Sau đó là làng Cầu Hò, làng Dũng, thuộc tỉnh Kampong Chnăng, khoảng 500 gia đình; rồi tới Chong Khnia thuộc tỉnh Siem Reap khoảng 400 nhà. Đó là nhưng làng nổi lớn nhất, nhiều người biết và khá giả hơn nhưng làng nổi khác.
Kampong Luong được xem là đầu mối, nơi trung tâm vùng Biển Hồ, vì dân số đông, buôn bán sầm uất, đi lại thuận tiện, cách thủ đô Phnom Penh khoảng 170km. Vị trí địa lý ở gần giữa Biển Hồ và gần quốc lộ 5 nên Kampong Luong trở thành trung tâm giao thương của các làng nổi trên biển. Các làng khác đem cá về đây bán, rồi mua tre, gỗ làm nhà và các thứ đồ dùng cần thiết khác ở đây đem đi. Do mật độ dân số quá đông và làm ăn buôn bán tấp nập nên Kampong Luong như một thị trấn nổi hỗn độn và phức tạp trên biển! Buôn bán lớn cũng ở đây, mại dâm, trộm cướp, giết người đều có đủ! Cả xã có 5 ấp, chỉ có 1 ấp ở trên đất, 4 ấp còn lại là làng nổi. Họ ăn uống, tắm giặt và xả tất cả rác thải sinh hoạt xuống ngay bên nhà, nên cả một vùng nước đen thui, đặc quánh và hôi thối đến mức muỗi không dám bén mảng tới! Làm cá xong vứt xuống biển, đi vệ sinh kế bên bếp, ngồi ăn vứt mọi thứ xuống bên cạnh, rồi lại múc nước đó tắm giặt…Nước đen và hôi hơn kênh Nhiêu Lộc ở Sài Gòn, vậy mà họ vẫn thản nhiên bơi lội, tắm rửa. Có khi đang tắm, rửa rau, vo gạo, phân người trôi qua họ lấy tay khoát nước lùa đi rồi tiếp tục công việc! Nguồn nước ô nhiễm nghiêm trọng, nên hầu hết phụ nữ bị bệnh viêm nhiễm phụ khoa, nhiều người mắc bệnh về mắt. Ồn ào, náo động từ 3 giờ sáng cho tới khuya, tiếng xuồng ghe, tiếng máy nổ, tiếng nhạc…làm lỗ tai tôi cứ lùng bùng như ong chui vô quậy ở trong! Dân Biển Hồ có đặc điểm là ai cũng nói rất lớn, nói như hét bên tai! Tôi phải cố gắng lắm mới thích nghi được với cảnh sinh hoạt như thế: từ chối tắm rửa và hạn chế ăn uống! Từ 78kg, sau 1 tháng chỉ còn 71kg, về Sài Gòn bạn bè nói tôi ốm và đen như cây đàn piano cũ, chẳng khác người Miên chút nào!
Tôi cố quên tất cả mọi khó khăn để giữ tiền, máy chụp hình và tìm mọi cách hoàn thành công việc. Như vậy rất nguy hiểm, vì người dân Biển Hồ chắt chiu, dành dụm được ít tiền có khi cũng không dám cất giữ trong người!
Một kẻ xa lạ từ VN qua đây không có người thân, bạn bè ở đây quả là rất khó khăn. Hầu như không có du khách nào ngủ lại trên Biển Hồ. Dân Kampong Luong nói có nhiều du khách tới đây nhưng họ thuê đò ra cửa biển xem rồi quay về, không ai ngủ lại. Mới đây có một du khách Korea tới, muốn ngủ lại một đêm xem sao, để có đủ dũng khí anh ta phải uống rượu, nốc tới say nhứ nhừ! Anh hướng dẫn viên người Cambodia phải quì lạy, van xin hết lời anh ta mới về. Có một vài nhóm làm từ thiện tới đây, họ cũng mướn ghe đi thăm và giúp bà con các làng nổi trên biển, nhưng khi xế bóng chiều tà đều lên xe về khách sạn ngủ, không ai ở lại.
Thời điểm này là đói kém nhất trong năm, vì từ tháng 6 đến hết tháng 10 Cambodia cấm đánh bắt cá, chỉ cho phép giăng câu thả lưới chút ít trong rừng, nên bà con không biết làm gì kiếm sống. Họ đành phải xài những đồng tiền ít ỏi dành dụm được. Những gia đình nghèo khó chỉ có gạo ăn ngày một bữa, sáng ăn cháo, chiều nhịn đói. Bơi xuồng vô làng, len lỏi giữa nhưng “nhà ổ chuột” vô cùng tồi tàn, tưởng chừng sóng đánh là tan tành từng mảnh, thấy có gia đình nghèo đang húp cháo vào lúc chiều tối. Qua tháng 11 tới tháng 5 thì cuộc sống mới tạm đủ ăn. Kampong Luong có khoảng 10% gia đình buôn bán khá giả; 30% đủ ăn; 40% nghèo và 20% đói rách. Nghèo khó, cơ cực nhất là những gia đình vợ mất chồng, con mất cha vì Pol Pot tàn sát, chết vì bệnh tật, sóng gió. Mưu sinh bằng chài lưới trên sóng nước mà thiếu sức lực đàn ông thì phụ nữ chân yếu tay mềm sao kham nổi! Vậy mà vẫn có những phụ nữ cô quạnh đi giăng lưới!
Ngày xưa người ít, cá nhiều, giựt vó một lần cá đầy ắp xuồng; thâu lưới thì cá nhiều hơn lưới; bà con thường bắt cá to, thả cá nhỏ; những con cá bán rẻ tiền, ăn không ngon bỏ đầy bên đường. Bây giờ cuộc sống ngày càng khó khăn hơn, nào là cấm đánh bắt, thuế má cao, cấm nuôi cá lóc, cá bông, vì cá nhỏ làm mồi cũng cạn kiệt dần; đến ốc bươu cũng cấm bắt! Bà con làm ngày, làm đêm mới đủ nuôi miệng. Tôi gặp Tuấn, 32 tuổi ở Kha Len tại chùa Kim Long. Tuấn tới nhờ sư cô xóc quẻ xăm xem về VN có kiếm sống được không. Tuấn nói bây giờ người ta chỉ cho mỗi gia đình thả 50m lưới, kiếm cá kho ăn cũng chưa đủ, nói gì bán kiếm tiền để lo những thứ khác.
Nhiều người đã về VN để kiếm sống, vì bây giờ ở biển cũng khó kiếm ăn, người quá đông mà cá thì ngày càng cạn kiệt. Về VN cũng chỉ làm thuê làm mướn, vì bà con ở đâu không được học hành. Họ làm gì để kiếm miếng ăn trên đất liền khi không biết chữ, chỉ quen kéo lưới, giựt vó, giăng câu, không ruộng đất, không nhà cửa và tài sản?  Cuộc sống thật bấp bênh, họ nói được bữa nào hay bữa đó!
Nghèo khó, người đông mà nguồn thủy sản ngày càng giảm sút, nhưng dân số ở Biển Hồ tăng rất nhanh. Nhiều cặp vợ chồng có hàng chục đứa con, có khi lo đánh cá, tối đếm lại đàn con thì thiếu mất một đứa, té ra con nhỏ lăn xuống biển chìm như củ khoai! Tìm thấy xác thì giúi vô lùm cây, không thì coi như táng vào bụng cá! Sống bắt cá ăn, chết làm mồi cho cá! Không biết bao nhiêu linh hồn đang vất vưởng trên mặt biển? Người lớn chết, nghèo không có đất chôn, người nhà gác quan tài lên ngọn cây trong rừng ngập nước ven biển, chờ nước cạn lòi đất thì hạ quan tài xuống chôn ngay dưới gốc cây. Trong thời gian đó, thi thể phân hủy, nước nhỏ giọt xuống, hàng đàn cá vây quanh… Có khi chôn xong, nước lên, quan tài bị nổi, sóng đánh vỡ ra, cũng làm mồi cho cá. Có khi tẩn liệm xong đem quăng xuống biển! Như vậy ngoài thổ táng, hỏa táng, điểu táng, còn có thêm thủy táng. Sống với biển, chết cũng về với biển!
Có người bỡn cợt rằng vì ở lênh đênh trên sóng nước không có gì giải trí, vui chơi sau một ngày đánh bắt cá, “nhà” thì chật chội, vợ chồng luôn nằm sát bên nhau, có khi đói không ngủ được, chẳng có gì giải khuây, nên họ lấy chuyện quan hệ vợ chồng làm vui! Vì vậy cứ đều đặn cho ra đời hàng đàn con, rồi lại nai lưng làm để kiếm bữa đói bữa no. Đêm xuống, buồn, lại lấy chuyện đó làm vui! Vòng luẩn quẩn đó không bao giờ dứt…
 

Phan Đăng Hoè - mùa Hè 2009

CUỘC SỐNG Ở BIỂN HỒ

Chiec ghe may co Diep Yen Binh tang cho truong hoc o xa Kampong Luong
Ghe may mang ban ky niem co ten chi Diep Yen Binh
Ben trong can nha rach nat
Cac em dang du xich du tren cay giua Bien Ho
Ghe boc bao nilong
Ghe thuyen da muc nat nen boc ni long de giam muc do nuoc ri vao ghe
Lang Cau Ho, thuoc tinh Kampung Chnang
Mot nguoi benh dang thuong tra Bien Ho khong co tien phau thuat
Ngoi lang nghe
Ngoi nha rach nat
Nguoi lon di lai cung tren chiec thau giac ao quan
Nhung ngoi nha rach nat tren Bien Ho
Nhung ngoi nha rach nat trong cac lang heo lanh it dan cu
Phong tam la mot chiec ghe lo thien. lay nuoc do va den thui tu duoi ho len de tam rua
Phuong tien di lai cua cac em tren Bien Ho la mot cai thau nhom
Thay hieu truong va hoc sinh ngoi tren chiec xuong may
Tre con khong ao khong quan
Tre em song va lon len tren Bien Ho khong co gi de giai tri #1