MTNCD logo chinh 2
donate

Những Khó Khăn

Cách Giải Quyết

Ban Điều Hành

Những Thành Quả

Cách Giúp Đỡ

Tình Người

Trang Tiếng Anh

eyes of compassion logo for thanking letter final

RELIEF ORGANIZATION

Mổ Mắt

Hệ Thống Nước Sạch

Giếng Nước

Bể Nước Mưa

Lu Nước Mưa

Xây Dựng Cơ Sở

Trạm Xá

Trường Học

Nhà Tình Thương

Nghĩa Địa Thiếu Nhi

Nhà Điều Dưỡng

Cầu Cống

Thiên Tai

Bảo Ketsana 2009

Trường Huấn Nghệ

Bệnh Hiểm Nghèo

Mổ Tim

Cháy Bỏng

Khẩn Cấp

Tâm Thần

Bệnh Phong

Viện Dưỡng Lão

Bảo Trợ

Trẻ Em Khuyết Tật

Tăng, Ni Du Học

Y Học Dân Tộc

T.T.Đ An Lạc

Tây Tạng

Học Bổng

Cải Thiện Đời Sống

Phát Quà

Phát Thuốc

Lào (Phonsavan Say)

Thành Quả ở Lào

Trường Na Khôi

Trường Khe Mương

Trường Loong Hang

Mương Nước

Phát Quà

Trạm Y Tế

Trường Xúc Xám

Trường Khon Than

Bể Nước Vang Mú

Nepal

Miến Điện

Làng An Bình

Đạo Tràng Pháp Hoa

Ya Chiêm

Ấn Độ

Cam-Pu-Chia

Cuộc Sống

Phát Quà

Xây Trường Mới

Sửa Trường Củ

Phóng Sanh

Góp Nhặt

Quý vị có thể gởi tịnh tài giúp đở về  văn phòng “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” ở địa chỉ 52 Evelyn Wiggins Dr. Toronto ON M3J0E8 Canada. hoặc giúp đở trực tuyến bằng Paypal.  Quý vị có thể giúp cho chương trình từ thiện nào cần thiết nhất, hoặc yêu cầu thực hiện những chương trình mà quý vị mong muốn. “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” là tổ chức từ thiện bất vụ lợi với số đăng ký trừ thuế 88930 2006 RR0001, chúng tôi có đủ pháp lý cung cấp giấy khai thuế cuối năm cho quý vị trong lãnh thổ Canada

 Mọi đóng góp và thắc mắc xin liên lạc về: Eyes of Compassion

General Express logo

Int’L General Express Inc.

Phone: 416-591-6363

Nơi chuyển tiền đáng tin cậy.  Đã giúp MTNCĐ chuyển tiền từ thiện miễn phí trong thời gian qua

Chuyển tiền về Viet Nam, Trung Quốc, Campuchia

Góp Nhặt

Phóng Sanh

Tới Bờ Tự Do

Sức Mạnh Kỳ Diệu Của Câu Xin Lỗi

Sau nhiều năm không nói chuyện với cha mẹ tôi, vì giận hờn. Cha tôi đã nối lại được tình cha con chỉ cần một câu xin lỗi.
Bà Wilberg cư dân ở Milwaukee kể lại kinh nghiệm bản thân của bà về sự rạn nứt  trong gia đình chỉ vì giận hờn, không ai nói chuyện với ai trong suốt 12 năm trời. Sự  im lặng ngày càng tệ thêm. Mãi cho đến khi cha của bà khởi xướng sự hàn gắn bằng lời xin lỗi của ông cụ.


KHI TÔI Ở TUỔI VỪA TRƯỞNG THÀNH, GIA ĐÌNH TÔI CÓ CÁI LỐI BẦY TỎ THÁI ĐỘ BẤT ĐỒNG bằng cách không nói chuyện với nhau nữa. Nhiều khi sự im lặng vì cơm giận kéo dài suốt ngày, hay nguyên cả một tuần lễ. Thỉnh thoảng một người bà con như một bà dì, hay người em họ bỗng dưng biến khỏi danh sách trong họ hàng vì một vài bất đồng gì đó. Giống như người ta bôi bỏ tên một nhân vật trong Bộ Chính Trị ở mấy nước Cộng Sản.

     Tôi ngưng không nói chuyện với cha mẹ tôi sau khi xảy ra  một loạt những khó khăn trong gia đình, để rồi đưa đến một lần cãi nhau giữa tôi và mẹ tôi qua điện thoại hồi năm 1988. Sự im lặng vì giận nhau kéo dài cho đến năm 2000. Trong suốt 12 năm trời, chúng tôi chỉ nhận được Thiệp Giáng Sinh từ cha mẹ tôi. Hai người ký tên "Họ" một cách lạnh lùng, như một thông lệ thường, ở dưới tấm thiệp. Chỉ có thế thôi, ngoài ra không có một sự giao tiếp nào khác cả.

     Những người như chúng tôi, được dạy dỗ theo tính thần văn hoá ghim trong lòng sự giận hờn thâm canh cố đế, đều hiểu rằng càng lạnh lùng thì càng xa cách. Giống như chiếc thuyền, càng đi ra khơi thật xa, càng không thấy bến bờ cũ. Giận nhau, không thèm nói chuyện trong khoảng hai hay ba năm, tự nhiên mình cảm thấy rất khó mà cầm điện thoại lên để nói chuyện lại với nhau.
     Thế rồi, bỗng nhiên cha tôi gởi cho tôi một tấm thiếp, trong đó ông cụ dùng đến ba chữ thật mầu nhiệm: "Xin lỗi con .Chuyện xảy ra thật là đáng tiếc, bố khổ tâm lắm.".

     Từ đó chúng tôi viết thư lại cho nhau. Tôi kể cho cha tôi biết về những đứa cháu ngoại của ông bây giờ ra sao, đã biết làm gì, và lớn đến đâu rồi. Ông cụ thì viết lại cho tôi kể về những chuyến đi chơi đánh "goft", chơi "bowling" hàng tuần của ông vui như thế nào. Ông cụ cũng viết cho tôi biết về căn bệnh "lú lẫn", Alzheimer's, đã  từ từ giết dần giết mòn mẹ tôi ra sao. Mỗi lá thư ông viết về mẹ tôi, ông đều mở đầu với dòng chữ: "Mẹ con thì vẫn như cũ, chỉ có điều mẹ không còn nấu ăn được nữa vì mẹ quên không nhớ cách sử dụng lò bếp.".

     Nhưng lá thư của cha tôi chỉ mở đường cho sự liên lạc giữa đôi bên, chứ chưa đem lại sự hoà giải hoàn toàn. Muốn hòa giải, chúng tôi phải giáp mặt nhau. Một năm sau, chúng tôi làm được chuyện này. Trên đoạn đường dài sáu giờ lái xe, tôi hỏi chồng tôi: "Em nên nói gì với bố đây?". Nhà tôi trả lời: Thì em cứ nói chào bố, rồi em hỏi lúc này bố ra sao. Có gì lạ không?".

     Đúng như vậy. Đó chính là những điều tôi đã hỏi thăm cha tôi, khi chúng tôi vừa bước vào nhà của cha tôi. Ông cụ bầy lên bàn  ăn món gà tây, bánh mì, và khoai tán ăn liền. Trong lúc ngồi ăn, ông cụ tóm tắt cho tôi những việc thường làm khi có người nào trong gia đình chết, người nào mới sinh, và những liên lụy gia đình của hai việc này. Đến lúc ăn tráng miệng, thì tôi bắt kịp, và hiểu được những điều ông cụ muốn dặn dò tôi. Trong hai năm kế tiếp, vợ chồng tôi đi thăm hai cụ thường xuyên hơn.

     Nếu như tôi để trễ thêm vài năm sau mới hoà giải với mẹ tôi, thì có lẽ bà chẳng còn nhận ra tôi nữa, và cũng chẳng cần biết tôi có trở về thăm bà hay không. May quá, tôi đã trở về, và đã xin lỗi mẹ tôi được, tôi đã có dịp nắm tay mẹ tôi, dìu bà đi bộ chung với tôi, có dịp thấy chiếc áo nhung mẹ tôi mặc trong ngày đám cưới của bà vào năm 1937, và được ăn  những bữa cơm tối có thịt gà tây cùng với bà. Khi căn bệnh Alzheimer ngày càng nặng thêm, nó làm cho bà cụ có khi bẳn gắt hay lý sự, có khi thì im lặng, không thèm nói một tiếng, và  nhất là không cầm được cái gì trên tay cả, điều này làm cho cha tôi khổ nhất. Ông viết thư dặn tôi đừng đến thăm nữa. Những lá thư của ông vẫn mở đầu bằng câu nói: "Mẹ của con thì vẫn như cũ, nhưng…"

     Vài tháng sau, mẹ tôi mất. Ngay khi nhận được điện thoại của  cha tôi, tôi sang gặp ông cụ ngay. Cụ muốn bàn với tôi về việc làm tang lễ. Tôi ngồi cạnh ông, trong lúc ông lấy cái máy đánh chữ hiệu Royal cổ xưa của ông để thảo tờ "Cáo Phó". Hai cha con lưạ quần áo mặc cho mẹ tôi khi chôn cất. Một áo sơ mi có in bông, một quần dài đậm mầu, và một cái bao nhỏ đựng tiền cắc, trong đó cha tôi bỏ vào chiếc nhẫn hứa hôn mà ông đã tặng cho bà 64 năm về trước. Chúng tôi ngồi cạnh nhau, trên hai cái ghế gấp, ở nghĩa trang, theo dõi các người phu nhà đòn từ từ hạ huyệt cho mẹ tôi.

     Mười tám tháng sau, cha tôi mất. Trong suốt thời gian khi người còn sống, chúng tôi đi thăm cụ nhiều lần. Chúng tôi thường đến nhà hàng Tầu để ăn tối, và đi chơi trong các khu buôn bán ở trong vùng . Mấy đứa cháu được nghe ông ngoại kể chuyện thời kỳ Kinh Tế Khủng Hoảng đời sống khó khăn như thế nào, thời kỳ nhạc jazz còn thịnh hành, và khi nhỏ ông cụ hay chơi những trò chơi gì. Ông cụ cũng nói về niềm thương nhớ của cụ đối với mẹ tôi. Cụ thường có cái thú mang hoa giả đến mộ phần của mẹ tôi vào một ngày trong tuần. Ông muốn trang trí mộ của mẹ tôi thật đẹp bằng hoa giả.

     Mỗi năm tôi đi thăm nghĩa trang nơi chôn cất cha mẹ tôi một lần. Tôi trồng một ít hoa tươi, loại dễ mọc, quanh phần mộ để thay thế những bông hoa giả của cha tôi, và rải quanh đó ít hạt giống cho hoa mọc lên. Trước khi ra về, tôi hôn lên đầu hai tấm bia mộ, tôi nói lời từ biệt, và cảm thấy sung sướng trong lòng. Tôi có được cảm giác của một đứa con trong gia đình.

     Sự trăn trở vẫn không hoàn toàn thoát ra khỏi tim tôi. Giờ đây tôi đang chăm sóc phần mộ của cha mẹ tôi, đã có một thời tôi có thái độ lạnh lùng với hai người trong suốt 12 năm. Trớ trêu thay, tôi không  còn cảm thấy ân hận nữa. Tôi cảm thấy tri ân. Ba chữ "I Am Sorry" của cha tôi đã cứu tôi không trở thành một đưá con mồ côi. Biết đâu có một người nào đó, cùng trong hội những người hay giận dai như gia đình tôi, tình cờ đọc được câu chuyện của tôi, có ý định xoá bỏ giận hờn, và làm giống như cha tôi. Hãy làm như cha tôi đi, không trễ lắm đâu.

Bà WILBERG hiện đang sống ở Milwaukee
Nguyễn Minh Tâm dịch theo Newsweek ngày 15/9/08

LỄ THỌ GIỚI CỦA MỘT TỬ TÙ (JARVIS BECOMES A BUDDHIST)

Trần Trung Đạo
Giới thiệu và lược dịch từ “Jarvis Becomes a Buddhist” của Jarvis Master và Melody Ermachild

Giới thiệu: Jarvis Jay Masters, người da đen, sinh năm 1962 tại Long Beach, California, trong gia đình 7 anh chị em, con của bà Cynthia. Bà Cynthia bị nghiện ma túy nên cả bảy người con của bà bị phân chia để sống trong các nhà tạm dưỡng thuộc chương trình an sinh xã hội của chính phủ. Cả cha của Jarvis cũng bị nghiện ma túy và bỏ nhà đi khi Jarvis mới vừa lên 5 tuổi. Từ đó, Jarvis, ngoài thời gian ngắn sống với người cô, đã phải sống từ nhà tạm dưỡng này sang nhà tạm dưỡng khác. Hoàn cảnh đầy bất hạnh của gia đình và những cuốn hút tiêu cực ngoài xã hội đã đẩy Jarvis, dù chỉ mới 12 tuổi, đã nhiều lần vào tù ra khám. Khi đến tuổi 17, Jarvis là một thanh niên nóng tính, hung dữ. Dù chưa chính tay giết chết ai nhưng Jarvis đã từng dùng súng để hăm dọa và đánh cướp các nhà hàng và cửa tiệm. Năm 19 tuổi, 1981, Jarvis lại vào tù San Quentin, California, sau khi bị kết án trộm cướp có võ trang. Trong nhà tù anh lại tham gia băng đảng.

Năm 1985, Trung sĩ Hal Dean Burchfield bị đâm chết trên tầng hai của nhà tù San Quentin. Ba tù nhân bị bắt và bị xử về tội giết người. Andre Johnson bị xử về tội đâm chết, Lawrence Woodard bị xử về tội ra lệnh giết và Javis Masters bị tố cáo là đã mài nhọn thanh sắt được dùng để đâm Trung Sĩ Hal Dean Burchfield. Trong thời gian án mạng xảy ra, Jarvis đang bị giam trên tầng thứ tư của nhà giam. Cả ba tù nhân đều có thể bị kết án tử hình. Kết quả vụ án, Lawrence Woodard và Andre Johnson bị kết án chung thân suốt đời không được giảm án nhưng Jarvis, dù không có mặt, lại bị kết án tử hình chỉ vì quá khứ đầy những tội trạng của anh từ những ngày còn bé cho đến năm 19 tuổi.

Jarvis Master bị chuyển sang khu những tù nhân chờ thọ án tử hình từ 1990. Từ đó, các luật sư của anh đã tiến hành thủ tục kháng án. Tháng 2 năm 2007, Tối cao Pháp Viện California nhận xét đơn thỉnh nguyện của nhóm luật sư biện hộ cho Jarvis. Ngày 11 tháng 4 năm 2008 mới đây, Tối Cao Pháp Viện California đã ra lệnh tiến hành thủ tục điều trần về bằng chứng của vụ án Trung Sĩ Burchfield. Những người ủng hộ Jarvis tin rằng anh ta sau 17 năm trong khu tử tội (Death Row) cuối cùng sẽ được trắng án hay ít nhất giảm án, tuy nhiên quyết định vẫn thuộc về Tối Cao Pháp Viện, và cho đến nay các buổi điều trần vẫn chưa đem lại kết quả chính thức nào.

Trong tù, Jarvis tìm hiểu về tôn giáo và cảm thấy đạo Phật đã đem lại cho anh sự an lạc mà từ lúc sinh ra anh chưa được hưởng. Năm 1989 (có tài liệu cho rằng năm 1991), Jarvis phát nguyện làm một Phật tử theo truyền thống Tây Tạng từ Đại Sư Chagdud Tulku ngay tại nhà tù. Đại Sư Chagdud Tulku là bậc Đại Sư Tây Tạng nổi tiếng tại Tây Phương, được công nhận là tái sanh lần thứ 14 của Đại Sư Chagdud. Đại Sư Chagdud Tulku hoằng pháp khắp các nước Tây phương, từ châu Âu sang châu Mỹ cho đến khi ngài viên tịch năm 2002.

Đồng thời với việc trở thành Phật Tử, Jarvis Master cũng trở thành một nhà văn. Trong lúc xã hội dạy anh “Trộm cướp có võ trang”, “Tham gia băng đảng”, tinh thần Phật giáo đã giúp sống lại lòng bao dung, thương xót, tình yêu trong con người vốn thiện của anh. Câu chuyện “Joe Bob lắng nghe” (Joe Bob Listens) được đăng tải vào số mùa Thu 1995 của tạp chí Turning Wheel. Trong tác phẩm “Tìm Thấy Tự Do” (Finding Freedoom), Jarvis kể lại những khoảng đời đầy bất hạnh và khốn khó trong thuở thiếu thời đầy vết sẹo của mình. Jarvis ngày nay không còn là một thanh niên giận giữ như thuở anh mới bước vào nhà tù San Quentin 27 năm trước mà là một tác giả được nhiều người yêu mến, kính trọng, và như một Phật tử, anh dâng hiến khả năng của mình để xiển dương tinh thần bất bạo động trong nhà tù.

Câu chuyện sau đây về lễ Thọ Giới (Empowerment ceremony) hay còn được gọi là lễ Gia Trì của Jarvis theo truyền thống Phật Giáo Tây Tạng được kể lại trong nhiều phần. Phần đầu do Melody Ermachild, một Phật tử, thành viên trong nhóm các luật sư của Jarvis, cũng là người đã sắp xếp cho chuyến viếng thăm của Đại Sư Chagdud Tulku. Phần sau là lời kể của chính Jarvis, phần thứ ba là đoạn trích những lời giảng của Đại Sư trong buổi lễ và cuối cùng là bài viết của Jarvis để tưởng nhớ sư phụ mình, Đại Sư Chagdud.

Melody Ermachild giới thiệu lễ Thọ Giới cho Jarvin

Khi tôi nhận được tin Đại Sư Chagdud Tulku có thể đến nhà tù San Quentin để làm lễ Thọ Giới cho Jarvis Masters, một trong những khách hàng tù nhân của tôi, tôi vội vã đến báo cho anh ta biết có thể sẽ là ngày mai để chuẩn bị.

Phản ứng đầu tiên của Jarvis là lo sợ. Anh ta muốn tôi gọi để hủy bỏ kế hoạch. Anh nghĩ mình không xứng đáng. Tôi nói với Jarvis nếu quả thật anh không xứng đáng để thọ giới, không xứng đáng là con người thì có ngài Lạt Ma Tây Tạng nào mà muốn đến gặp anh. Nên bình thản và để cơ hội tốt đẹp đến với mình. Điều đó đem lại nhiều lợi lạc cho anh. Việc nghĩ mình không xứng đáng có thể là một điều tốt vì buổi lễ liên quan đến việc sám hối những điều không lành đã làm trước đây. Lo sợ là điều tốt, ai cũng vậy thôi. Lo sợ cho thấy anh xem buổi lễ là một nghi thức quan trọng. Buổi lễ cũng không xảy ra theo sự sắp đặt riêng của anh. Anh đang ở trong tù. Đại Sư Chagdud Tulku rất già yếu và cũng hiếm khi có mặt ở Mỹ. Ngài tình cờ có mặt ở vùng gần đây và sẵn lòng đến gặp anh, vì thế ngày mai sẽ là ngày thọ giới của anh. Nhiều việc bất trắc biết đâu lại có thể xảy ra nhưng nếu mọi việc đều êm xuôi thì quả là điều kỳ diệu. Tôi khuyên anh như thế.

Ông phụ tá quản đốc nhà tù đã từ chối lời yêu cầu buổi lễ được diễn ra bên trong xà-lim của Jarvis, nơi ngài Lạt Ma có thể đặt tay lên người Jarvis. Không giống như lễ rửa tội của đạo Thiên Chúa hay đạo Do Thái, lễ thọ giới của đạo Phật không được Sở Cải Huấn công nhận. Buổi lễ vì thế phải diễn ra hai bên lớp kiếng cửa sổ. Đại Sư cũng không thể tặng cho Jarvis những thánh vật mà ngài thường dành tặng cho các đệ tử bên ngoài nhà tù. Trên đường đi ra, một cách thân tình, tôi yêu cầu ông già bảo vệ anh ninh phòng thăm tù cung cấp một đường điện thoại xa để chúng tôi có thể trao đổi một cách riêng tư. Tôi nói với ông nhân viên an ninh già là sẽ có một vị Lạt Ma Tây Tạng thật sự đến nhà tù. Ông ta nói chơi với tôi rằng ông có xem phim “Con Trời” (The Golden Child) do Eddie Murphy đóng vai chính và còn chọc ghẹo “Eddie Murphy cũng đến phải không?”

Sáng hôm sau, khi tôi đến nhà tù thì Đại Sư Chagdud Tulku và thông dịch viên Tsering Everest đã ngồi trên ghế dài giữa một đám đông ngoài phòng chờ. Hành lang đông kín người thăm tù, khói thuốc, tiếng người nói lớn, tiếng trẻ em khóc lóc. Đại Sư ngồi im, những ngón tay nâu đậm đầy vết nhăn đang lặng lẽ lần tràng hạt, đôi mắt ngài như đang chiêm nghiệm những gì đang xảy ra chung quanh. Ngài ngồi im lặng trong bộ áo tràng với những nút màu xám phủ dài trên sàn phòng đợi. Đến trưa, khi gần đến giờ mở cửa phòng thăm, đám đông đã chờ từ sáng sớm, càng lúc càng căng thẳng hơn. Chính Đại Sư cũng đã chờ hơn hai giờ. Ngay phía trước ngài, hai người đàn bà, bằng thứ ngôn ngữ đường phố, bắt đầu cãi nhau với một ông già chỉ vì chuyện giành chỗ, trong khi Đại Sư im lặng nhìn họ nói.

Khi đám đông có vẻ lắng nghe, Đại Sư kể cho họ nghe một câu chuyện về nhà tù người Trung Quốc đang dùng để giam giữ dân Tây Tạng. Ngài kể rằng người Trung Quốc bắt dân Tây Tạng đào một hố thật sâu. Cái hố sâu đó chính là nhà tù. Những người tù Tây Tạng sống, ăn ở và phơi bày thân thể họ dưới cả nắng mưa như thế cho đến chết. Ngay cả sau khi chết đi, họ cũng bị chôn trong lòng hố sâu đó. Ngài kể rằng ở Tây Tạng có sáu mươi ngàn tù nhân bị giam giữ trong tình cảnh đó.

Cuối cùng chúng tôi bắt đầu đi vào phòng thăm viếng. Đại Sư tháo giày và áo tràng để được khám xét. Tôi phải đi vào sớm lo thủ tục đưa Jarvis ra khỏi xà-lim để chuẩn bị phần nghi lễ. Khi Jarvis xuất hiện trong ánh đèn mờ phía bên kia tấm kiếng dơ bẩn và trầy trụa, phòng thăm đã đầy kín thân nhân, vợ con đi thăm tù. Tiếng nói lớn vang dội trong hành lang, khói thuốc mịt mù khắp chúng tôi. Quang cảnh của buổi lễ thọ giới cho Jarvis bắt đầu như thế.

Bên phía chúng tôi, người thông dịch cầm điện thoại. Phía bên kia Jarvis đứng sát vào mặt kiếng, áp tai vào điện thoại, ánh sáng mờ không soi đủ khuôn mặt anh nhưng chúng tôi cũng thấy rõ anh đang mỉm cười và đôi mắt chứa một chút lo âu.

Đại Sư hỏi: “Tinh thần con có minh mẫn không?”

Jarvis kể lại buổi lễ thọ giới

Khi tôi có cơ hội để nhận lễ thọ giới từ một ngài Lạt Ma Phật Giáo Tây Tạng, cảm giác đầu tiên tôi nhớ, là không xứng đáng. Và rồi đến lo sợ khi nghĩ đến việc một buổi lễ như thế lại được thực hiện tại nhà tù tiểu bang bạo động như San Quentin này.

Tôi chỉ là người mới bắt đầu tập sống trong nếp sống Phật giáo. Thông qua những người bên ngoài, tôi đã bắt đầu thực hành thiền Phật Giáo. Với tôi, tôi giữ kín việc thực hành thiền. Tôi không nói điều đó với ai, bạn tù của tôi hay cả những ông nhân viên bảo vệ an ninh của trại tù cũng thế.

Sau tám năm tù, tôi vẫn cảm nhận một nỗi lo sợ thật sự khi gọi chính mình là một Phật tử và việc khi các bạn tù thấy tôi đang tĩnh tọa, cầu nguyện hay thiền định. Đặc biệt, tôi cũng rất sợ bị người khác thấy khi nhận lễ thọ giới. Trong lúc tâm hồn tôi vui mừng chào đón cơ hội, những tiếng nói khác trong tôi lại đặt ra câu hỏi. Đây có thể là chặng đường khác tôi sẽ phải đi qua? Có thể trong tương lai tôi lại phản bội chính tôi và ý nghĩa thiêng liêng của lễ thọ giới? Có phải tôi đã là một Phật tử? Những điều tôi phát nguyện, thực sự, có buộc tôi phải hy sinh cuộc đời mình? Làm thế nào tôi lại có thể chống lại tất cả những bạo động của nhà tù?

Trong tù, không ai tin rằng việc cải đạo là thật. Hầu hết tù nhân đều nghĩ rằng ai đón nhận một niềm tin tôn giáo bất ngờ chẳng khác gì tham gia một trò chơi hay lừa dối để được ra khỏi tù sớm.

Tôi dành gần một năm cố gắng vượt qua những hoài nghi đó, từng điều một, thông qua việc thực tập và thông qua những bài giảng của ngài Chagdud Tulku, vị Lạt Ma tôi sẽ nhận lễ. Dù sao, tất cả lần nữa xuất hiện trong buổi lễ. Đang ngồi dưới nền xà lim cố gắng tĩnh tâm, tôi lại sợ. Nhà tù dội lại tiếng nói của hàng trăm tù nhân, cảm giác khó chịu và xung đột hiện ra cùng một lúc.

Tôi ngồi bất động, không ngớt niệm hồng danh đức Quan Thế Âm Bồ Tát. “Quan Thế Âm Bồ Tát. Xin hãy nhìn thấy con, xin giúp cho con vượt qua những chướng ngại và cho ước vọng của con sớm thành đạt”. Tôi tìm trong mỗi lần cầu nguyện một sức mạnh thiêng liêng giúp tôi xua đuổi những lo âu, chuẩn bị tinh thần chấp nhận một cách công khai lễ Thọ Giới của mình và để giúp tôi chào đón ngày đầu tiên tôi được sống trong tinh thần Phật giáo. Nhưng mặc dù lời cầu nguyện này, tôi chỉ muốn giữ việc tu tập của mình trong vòng bí mật, để duy trì sự trong sạch trong tâm khi tôi thực tập thiền. Tôi chỉ muốn có thời gian thật tĩnh lặng trong đời sống tù đày của tôi.

Tôi chỉ gặp Đại Sư Chagdud Tulku một lần trước đó. Tôi vô cùng xúc động khi ngài bất ngờ đến nhà tù San Quentin để thăm tôi. Nguyên tắc nhà tù chỉ cho phép chúng tôi trao đổi bằng điện thoại trong ngăn thăm viếng nhỏ, xuyên qua cửa sổ bằng kính. Tôi cảm nhận sự ấm áp từ tấm lòng của Đại Sư dù chỉ nhìn ngài thôi và tin tưởng những lời giảng của ngài. Tôi hy vọng rằng, qua những lời dặn dò cách tu hành trong nhà tù, một ngày tôi sẽ có thể công khai nhận lễ thọ giới.

Bây giờ tôi cảm thấy may mắn được ngồi trên sàn xà-lim chờ đợi cơ hội. Tôi nhớ một người nào đó đã nói với tôi từ lâu rồi: “Tất cả những gì ngươi cần là một tâm hồn thuần khiết, đó là điều cần thiết nhất. Hãy im lặng mà lắng nghe.” Đó là những gì tôi đang làm.

Buổi trưa vào ngày cử hành lễ, tôi được gọi tên. Một nhân viên an ninh còng tay và đưa tôi đến khu thăm tù. Trên đường đi, tôi tiếp tục niệm hồng danh đức Quan Thế Âm Bồ Tát cho đến khi mắt tôi bắt gặp đôi mắt của Đại Sư lần thứ hai trong đời tôi.

Tôi ngồi bên này cửa kính đối diện với Đại Sư đang ngồi phía bên kia. Bên cạnh ngài là Tsering, một học trò gần gũi với ngài, sẽ làm thông dịch cho chúng tôi. Melody, bạn và cũng là một Phật tử, cũng có mặt trong buổi lễ để mừng đón biến cố này với tôi. Chúng tôi vui mừng chào hỏi nhau trong lúc các khách thăm tù nhìn chúng tôi.

Tôi cầm điện thoại lên. Phía bên kia chị Tsering cũng đã cầm điện trên tay. Với một nụ cười dễ thương trong sáng trên mặt, chị hỏi thăm sức khoẻ tôi. Tôi đáp lại bằng nụ cười và cũng trả lời chung cho mọi người biết là tôi mạnh khỏe. Chúng tôi đều vui cười. Sau đó, chị Tsering quay sang Đại Sư để nhận lời của ngài.

Chị Tsering hỏi tôi, “Đại Sư hỏi tinh thần anh có minh mẫn không”

“Thưa vâng”, tôi đáp.

Melody Emachild: Đoạn trích từ lễ Thọ Giới

Đại Sư: Chuyện chúng ta không thể tiếp xúc trực tiếp không phải là điều quan trọng. Sức mạnh của buổi lễ là từ những lời con đang nghe. Thầy mong con nhìn sự vật từ một góc nhìn rộng rãi. Đừng đổ tội cho ai khác những khó khăn của chính mình. Con sẽ thấy một tù nhân giận dữ là một điều đáng buồn vì anh ta đang tạo nên ác nghiệp cho mình. Với con tất cả những điều đó giờ đã thành quá khứ. Từ lúc này về sau. Trước tất cả mọi người, con hãy hứa: Tôi sẽ không giận giữ. Tôi sẽ không làm hại bất cứ ai bằng hành động của tôi. Đó là mối quan tâm hàng đầu của tôi mỗi ngày, ngay cả bằng mạng sống của mình. Nếu con giữ lời phát nguyện này, con sẽ không còn tạo ra bất cứ sự đau khổ nào cho chính con trong tương lai. Bằng lời do chính con, lập lại ba lần, hãy phát nguyện trước các đấng thiêng liêng và mọi người. Điều này cung cấp cho con sự bình an. Giống như việc nếu không uống thuốc độc thì không bị đau.”

Jarvis: Từ nay trở đi, con sẽ không làm ai đau đớn, không hãm hại người khác dù phải mất đi mạng sống của chính mình.

Đại Sư: Lời phát nguyện thứ hai: Từ nay về sau, con sẽ cố gắng để làm ngưng sự khổ đau của nhân loại và của chúng sanh muôn loài. Chúng ta mang thân xác này từ lúc sinh ra. Đây là phần của nghiệp, nhưng đó không phải là tất cả sự thật. Việc thọ giới làm thay đổi ý thức của chúng ta về thân thể mình. Bây giờ còn sống đó, bây giờ đang chết đó và sẽ biến mất đi. Có khoảng cách giữa các phân tử. Đó cũng chỉ là vật thể. Một khoảng trống vô tận, một tánh không vô tận. Có sự nối tiếp giữa thực và mộng. Thân xác, hủy hoại và tái sanh. Bản thể thì đều giống nhau. Tánh không là nền tảng của tất cả. Trong tánh không là trí tuệ, trí tuệ không sanh và cũng không diệt mà là sự thật mãi mãi. Giống như bầu trời….Chúng ta đặt cho chữ là chữ tốt và chữ xấu, nhưng tất cả thật ra chỉ là tiếng gió thổi qua giọng nói của mình. Âm thanh của bầu trời là âm thanh của tánh không. Âm thanh là một biểu hiện của tánh không và thân xác của con cũng vậy.

Nếu điều đó khó hiểu, con hãy nghĩ về một giấc mộng. Cuộc đời chỉ là giấc mộng. Tất cả tùy thuộc về việc tôi nghĩ về nó như thế nào. Lấy nhà tù làm ví dụ. Con có thể cho rằng nhà tù hẳn là một nơi xấu nhưng một người sống trong căn nhà tuyệt đẹp cũng vẫn tự sát thì sao. Mỗi người phải ngồi một nơi nào đó, dù tuyệt vời hay khốn khó. Địa ngục chẳng ở đâu xa. Địa ngục có ngay trong cơn ác mộng của chính con người. Địa ngục là kết quả của lòng thù hận trong chính mình. Có hai cách để thay đổi tâm thức. Một là suy nghĩ, suy nghĩ và suy nghĩ, một khác là buông xả mọi suy nghĩ ràng buộc và lắng lòng bình thản. Bản thể của tất cả sự sống trên trái đất đều giống nhau. Chúng đều có một mùi vị như nhau. Khái niệm của tâm là những gì cho chúng ta ý nghĩ rằng có những sinh vật xấu và những sinh vật tốt. Giống như phim ảnh, đó chỉ là ánh sáng chạy trên giấy bóng kính. Hãy nhận thức tất cả điều đó như cuốn phim trong ý thức con. Phải hiểu rằng bản chất của thân xác con là bất diệt và bản chất của con là thật, hoàn hảo và thuần khiết. Đặc tính của tâm là khai mở và hiện hữu. Ý tưởng phát xuất từ trí óc của con. Giống như cánh cửa kiếng này, nếu con chỉ nhìn vào tấm kiếng thì con sẽ không thấy gì cả. Nếu con nhìn vào ý tưởng con sẽ không thấy được sự toàn hảo.

Jarvis: Bạch thầy, trong tù, gíup đỡ người khác nhiều khi có thể làm mình mất mạng. Con có được xem là vẫn giữ được những giới mình phát nguyện nếu hành xử theo ý thức mà mọi người thường nghĩ không? Có thể con dùng sự khôn khéo để tránh tạo ra cái chết của mình?

Đại Sư: Nếu con giúp một người mà phải đổi bằng thân xác của mình thì cũng chỉ cứu một người. Tuy nhiên nếu con có thể trau dồi nhận thức để giúp đỡ người khác một cách tốt đẹp nhất, con có thể giúp nhiều người, 100, 1000 hay vô số người khác. Có ba cách: không hãm hại, giúp đỡ và thuần khiết. Thực sự, rồi con sẽ hiểu được bản chất thuần khiết của chính mình. Trước khi hiểu được điều đó con sẽ cảm thấy thiên đàng và địa ngục. Nó giống như việc bao quanh mình với hàng trăm tấm gương soi, nếu chúng ta dơ và xấu, chúng ta sẽ thấy người khác dơ và xấu, nếu chúng ta sạch và tốt, chúng ta cũng sẽ thấy người khác như vậy. Tất cả chỉ là một chức năng của tâm. Cái cách để thực hành là để thấy mọi người thuần khiết dù họ hãm hại hay giúp đỡ con, ngay cả loài động vật hay một người bảo vệ an ninh nhà tù, hãy nhìn sự thuần khiết nơi họ. Hãy nghe âm thanh như toàn hảo, như Đức Quan Thế Âm đang dạy. Bất cứ ai đã sanh thì sẽ diệt….Mỗi lúc là một cơ hội để được bình an, và giúp đỡ. Đức Quan Thế Âm nói: con là ngài, tuyệt đối toàn hảo…..

Cuối mỗi ngày, hãy sám hối những suy nghĩ và hành động xấu của mình và tự hứa sẽ sửa sai. Khi làm điều tốt, tiếp tục làm. Mỗi điều sai, sám hối và buông xả. Giống như mình đang bơi, tiếp tục mà bơi.
Jarvis: Bạch thầy, con cảm thấy thuần khiết khi con gần gũi thầy, nhưng rồi sẽ rất dễ dàng quên đi.
Đại Sư: Hãy cầu nguyện đức Quan Thế Âm cứu độ. Ngài luôn ở với con, ngay trên đầu con, giúp xóa đi những vết dơ, ban cho con sự trong sạch và niềm vui trong cuộc sống.

[Jarvis hỏi về trường hợp một nhà sư tự thiêu để chống chiến tranh vùng Vịnh mà anh xem trên truyền hình]

Điều đó có ý nghĩa gì?

Đại Sư: Nhà sư thể hiện tình thương để chấm dứt chiến tranh. Với nhà sư việc đó là tốt. Với con, có thể là không. Nhà sư đó xem thân xác không khác gì bộ áo quần. Chúng ta, không phải ai cũng giống như vậy.

Hôm nay, con đã phát nguyện, với chúng tôi, con trở nên một người trong gia đình. Chúng tôi sẽ giúp con. Con có trong lời cầu nguyện mỗi ngày của chúng tôi. Chúng tôi luôn nghĩ về con.

Javis: Bạch thầy, con thật sự cảm nhận được điều đó, con biết ơn thầy.

*************

Buổi thăm viếng kéo dài gần 2 tiếng đồng hồ. Sau buổi lễ, thật khó nghe từ phía đầu dây bên tôi. Quá nhiều tiếng ồn chung quanh. Các tù nhân khác cùng nói trên những điện thoại nối nhau thành một chuỗi dài, thật khó cho tôi có thể nghe tiếng của những người đang thăm viếng mình. Tự nhiên tôi thắc mắc, “Ồ”, “Chẳng lễ cũng ồn ào như thế này trong buổi lễ hay sao?” Tôi cảm thấy như vừa lấy cái nút chặn âm ra khỏi tai mình – dường như tôi cũng vừa đặt chân trở vào cánh cửa của thực tế tù đày lần nữa.

Cuối buổi thăm viếng, tôi nói chuyện với Melody, người ngồi sát cửa sổ trong suốt buổi lễ. Tôi cám ơn chị đã có mặt và nhờ chị chuyển lời cám ơn Đại Sư và Tsering về tất cả phước đức họ đã mang đến cho tôi. Tôi nói với chị, tôi đã cám ơn nhưng không nói hết lời vì nước mắt của lòng biết ơn đang dâng lên, và tôi không muốn ai thấy mình đang khóc. Melody hiểu điều đó. Chị gác điện thoại, cùng với Đại Sư và Tsering vẫy tay chào, ra đi. Tôi vẫy tay chào họ.

Khi tôi chờ để được nhân viên an ninh đưa trở về xà-lim, một tù nhân gọi qua hỏi có phải tôi đang thực hành Phật Giáo. Tôi ngừng một chút. Khi tôi sắp trả lời thì một nhân viên an ninh bước đến đứng giữa chúng tôi để lắng nghe. Chờ khi đôi mắt ông ta nhìn đi nơi khác, tôi đáp, “Vâng tôi là Phật tử”. “Phải chăng, tất cả chúng ta đều giống nhau, cách nầy hay cách khác? Trong cuộc đời này”, rồi tôi nhìn ông nhân viên an ninh và nói, “Cuộc sống, tôi nghĩ, có lẽ nên có một chút tinh thần Phật giáo như thế trong tất cả chúng ta”.

Ông nhân viên an ninh nhìn tôi với nụ cười ngạc nhiên, rồi bước đi. Tôi cũng thấy thật lạ. Tôi nhìn qua cánh cửa sổ nơi có chiếc ghế của Đại Sư vừa ngồi, và chợt cảm thấy một niềm tin mạnh mẽ rằng Đại Sư như vẫn còn ngồi đó. Tôi hướng đến chiếc ghế trống và cúi đầu vái ba vái.
Jarvis Jay Masters: Thương tiếc thầy

Không lâu sau khi tôi được tin Đại Sư Chagdud viên tịch, có lẽ một tuần, tôi được đưa ra phòng thăm viếng. Tôi ngồi ở đó, nhìn xuyên qua cửa sổ, cố gắng đoán chừng ai sẽ đến thăm tôi. Ai lại phải dành thời gian thông qua bao thủ tục nhà tù phức tạp để vào thăm tôi? Tôi nghĩ về những người từ lâu tôi chưa từng gặp lại. Và trong mắt rưng rưng, hình ảnh của thầy tôi, ngài Chagdud, đến với tôi. Tôi thầm ước đó chính là thầy đang đến thăm tôi. Rồi tôi chợt ý thức ngài sẽ không còn xuất hiện từ góc phòng thăm và bước tới gần cánh cửa kiếng nầy lần nào nữa, như thầy đã đến bao lần trước đây.

Tôi kính trọng Đại Sư, như thầy và cha của tôi. Tôi nghĩ đến bao nhiêu khó khăn thầy phải trải qua để vào được nhà tù thăm tôi, những giờ dành cho tôi thầy phải gác một bên bao nhiêu người khác, những giờ thầy lẽ ra đã dành để thuyết pháp trong các đại giảng đường với hàng ngàn người mơ ước được quy y với thầy, với những bài pháp của thầy. Giữa nỗi buồn của tôi, tôi cũng biết mình thật có phước khi được chính thầy vào tận nhà tù San Quentin để ngồi xuống trước mặt tôi, phía bên kia cửa kiếng này. Những năm sau, dù bệnh nặng phải ngồi trên xe lăn, thầy vẫn cố gắng vào thăm tôi. Thầy là người đã chỉ cho tôi con đường tinh thần tôi đang đi hôm nay.

Nhìn ra bên kia cửa kiếng, tôi chờ người thăm tôi sẽ đến. Ba mươi phút trôi qua, tôi thắc mắc không biết người đến thăm tôi đã hủy bỏ chuyến viếng thăm, nhưng tôi ngồi nán lại, hy vọng có một người sẽ đến. Tất cả tù nhân khác đều đã có mặt, tôi có thể nghe được tiếng người nói chuyện với nhau chung quanh.

Bạn tôi, Russell, và tôi, là hai người duy nhất từ Trung Tâm Điều Chỉnh (The Adjustment Center) được đưa đến phòng thăm viếng hôm đó. Russell, cũng là tù nhân trong khu tử tội, và tôi biết anh ta khoảng chục năm nay. Russell nhắc tôi rằng anh ta hy vọng em gái đến thăm và muốn tôi gặp chào cô ta. Nhưng khi cô em Russell đi ngang tôi không kịp để ý. Hai anh em Russell ngồi nói chuyện bên ngăn kế tôi. Tôi nghe tiếng nói nặng nề của Russell. Anh ta dặn em gái không được đưa mẹ đến thăm. Chắc cô em đang bực bội vì giọng của Russell nặng nề, trầm trọng và gần như giận dữ. Cơn bộc phá của Russell thật sự làm tôi chú ý.

Một trong những điều nuối tiếc lớn nhất mà tôi đã phải sống với nó là tôi không hề gặp mặt mẹ mình trong bảy năm đầu bị giam ở đây, trong khi bà còn sống. Và nữa, tôi đang nghĩ đến thầy tôi và thầm ước gì tôi sẽ gặp mặt ngài lần nữa.

Vì vậy, tôi thật chưng hửng khi nghe Russell dặn dò em gái anh ta như thế. Làm thế nào một người như Russell, lớn hơn tôi nhiều, có lẽ đã gần bốn mươi tuổi, lại không muốn mẹ vào thăm? Càng nghe anh ta dặn em dù với điều kiện gì đi nữa, anh ta cũng không muốn mẹ vào thăm, lòng tôi sống dậy ước muốn ngày xưa, là được thấy lại mặt mẹ mình.

Russell càng nói càng lên cao giọng: “Đừng bao giờ đưa mẹ vào đây – Nếu em không nghe lời, thì thôi, anh sẽ chấm dứt, không bao giờ nói chuyện với em nữa. Anh thà bị xử tử hơn là để mẹ thấy anh như thế này.” Tôi nghĩ đến những người thân yêu của tôi đã qua đời trong lúc tôi trong cảnh lao lung, không có dịp cho tôi gặp, bởi vì họ hay vì tôi dù sao đã nghĩ rằng, có thể có một lúc nào đó thích hợp hơn đoàn tụ với nhau mà không phải cách ngăn bởi cánh cửa kính như thế này.

Không ai thăm tôi ngày hôm đó, suy nghĩ của tôi hoàn toàn cuốn hút vào câu chuyện của anh em Russell. Và, càng nghe Russell cương quyết, tôi càng thấm sâu vào ký ức và tiếc thương của chính mình.

Tôi biết rằng với tất cả nước mắt tôi đã nhỏ xuống và nỗi đau sâu thẳm mà tôi đã chịu đựng vì mất đi cơ hội để được nhìn vào đôi mắt mẹ, tôi nghĩ mình cần phải khuyên can Russel sớm. Dù chúng tôi sống khác tầng, và cách sân, tôi đoán chừng có thể trao đổi với anh ta xuyên qua lớp hàng rào.
Thật không dễ dàng để chờ một cơ hội nói chuyện với Russell. Gần cả tuần lễ tôi mới có dịp thấy Russell tập thể dục trong sân sát với sân tôi. Trời mưa suốt đêm qua, buổi sáng hôm đó trời tuyệt đẹp, sáng mùa đông quang đãng. Cả hai chúng tôi đi dạo dọc hàng rào. Suốt mấy giờ tôi cố tìm một chữ thích hợp để bắt đầu câu chuyện giữa Russell và em gái cậu ấy đã lọt vào tai tôi. Cuối cùng, tôi không cố tìm kiếm lý do nữa, và gọi Russell để nói thẳng với anh ta rằng tôi có nghe anh ta dặn em gái đừng bao giờ đưa mẹ vào thăm.

Điều đầu tiên Russell nói với tôi là “Vâng, Jarvis, mình cũng biết cậu cũng chẳng muốn mang mẹ cậu đến đây làm gì. Sẽ không bao giờ có chuyện mình đưa mẹ mình vào nơi tệ hại này và phải chứng kiến mình như thế này.

“Russell, mẹ mình qua đời rồi!” Tôi trả lời.

Một thoáng nhìn buồn trên khuôn mặt Russell, “Jarvis, mình thật xin lỗi khi nghe tin đó.”

“Vâng, Russ”, Tôi nói tiếp, “Mẹ mình chết mấy năm trước, có lẽ cũng cùng khoảng thời gian mình gặp cậu lần đầu. Từ đó đến bây giờ, mình mãi hối tiếc mỗi khi nghĩ đến nhiều lần mẹ mình đã có thể đến thăm mình. Cậu biết không? Mỗi lần ngước nhìn tấm ảnh mẹ trên tường xà-lim mình ao ước được thấy mặt mẹ mình trong phòng thăm tù.”
“Thật vậy sao, Jarivs?” Russel đáp “Cậu không nên thấy mẹ cậu bước vào chỗ tệ hại như thế này chứ? Để gặp cậu trong khu tử tội sao? Phải chen lấn trong hàng, nhiều khi bị đám an ninh lên giọng xúc phạm? Và cũng chỉ gặp cậu nhiều lắm là một giờ đồng hồ? Thôi, cậu ơi, mẹ mình đối với mình quá quan trọng để chỉ nghĩ đến việc bà phải vào nơi tệ hại mà mình đã sa chân vào. Mà vào đây để làm gì nhỉ?
Tôi ngắt lời, “Cậu nói để làm gì là nghĩa làm sao? Để làm gì bởi vì mẹ cậu muốn thăm cậu. Này Russell, bởi vì mẹ cậu sanh ra cậu – Không có lý do nào khác hơn.
“Lắng nghe mình nói đây Russell. Không phải vì nơi này, về nơi cậu đang sống, bộ quần áo cậu buộc phải mặc, cũng không phải vì sự kiện tên cậu đang nằm trong danh sách những kẻ sẽ bị xử tử - Những điều đó không bao giờ xóa được hình ảnh một đứa con trai trong tấm lòng người mẹ. Mẹ cậu cũng thế, mẹ cậu cũng đang đối phó với bản án tử hình, mỗi lúc bà nghĩ đến nơi cậu đang sống. Bà đang chờ, đang hy vọng, đang cầu nguyện cậu sẽ không bị xử tử. Bà đang chiến đấu chống lại nỗi lo sợ bị mất cậu đi.”

“Jarvis này, mình hiểu những điều cậu đang nói” Russell đáp, “Những câu nói nghiêm túc, và mình cũng cảm nhận được điều cậu đang nói. Nhưng nè, khi sa chân vào chỗ lao tù, mình đã làm mẹ mình đau đớn nhiều rồi. Bây giờ mẹ mình quá già, với tuổi 80. Thật sẽ nát lòng mẹ nếu bà thấy mình ra nông nỗi này. Cậu biết không. Ngay cả viết thư cho mẹ mình đã thấy khó khăn rồi. Cậu cũng biết đám quản đốc nhà giam tạo khó khăn cho người đi thăm đến mức nào. Thật không đáng, Jarvis, thật không đáng đi thăm chút nào.”

“Này Russell, nghe mình nói. Không phải là bênh vực mẹ cậu. Bà biết cậu ở đây rồi, mặc quần áo tù nhân. Nhưng bà cũng hiểu sự quan trọng dường nào khoảng thời gian của bà và cậu”

“Cậu nói thế nghĩa là sao?” Russell hỏi lại, “về thời gian của bà? Mình đã dặn em mình nói với mẹ tất cả cơ hội tốt mà các luật sư cho mình biết sẽ thắng kháng kiện và bước ra khỏi nơi này.”

“Ồ, đúng vậy sao?” Tôi nói “Rồi những gì sẽ xảy ra nếu một ngày mẹ cậu, chứ không phải cậu, chết đi? Tuần sau? Tháng sau? Rồi sau đó thì sao? Những điều nằm trong tâm thức mà cậu hằng mơ ước có dịp để nói với mẹ cậu rồi sẽ đi về đâu? Thấy không Russ. Không phải về cậu – cậu ra khỏi đây một ngày nào đó – chờ và chờ cho điều đó đến với cậu. Không nên để thời gian lãng phí đi, không cần phải tính toán đến việc ngày mai chúng ta sẽ ra sao. Bởi vì không có lời hứa hẹn nào cả. Mình biết điều đó bây giờ, nhưng trước đây mình đã không ý thức được như vậy, thật vậy, cho đến một ngày khi vị tuyên úy nhà tù gõ cửa xà-lim, nhìn sâu vào mắt mình và nói, “Tôi xin báo tin buồn rằng mẹ anh đã chết.” Tôi bắt đầu khóc trước mặt Russell. “Và cậu hãy đoán thử xem, cuối cùng mình đã được yêu cầu để làm việc gì cậu biết không? Hãy đoán thử xem những gì sẽ thay vào chỗ những câu nói mà mình từng mơ sẽ kể cho mẹ mình nghe?

“Gì vậy? Mình không biết” Russell nói.

“Cậu đoán thử sao”, Tôi nói, “Ráng đoán thử xem.”

“Bạn ơi, Jarvis” Russell nói với giọng buồn. “Mình không biết, mình không ngay cả tưởng tượng nếu mẹ mình chết đừng nói chi là mấy chuyện khác.”

“Vâng, mình được yêu cầu viết vài điều để đọc trong lễ cầu nguyện bà”, Tôi nói, “Và mình sẽ kể cậu nghe vài điều. Trong mỗi chữ phát xuất từ đáy tim mình, trong mỗi câu, mỗi dấu chấm, có hàng tỷ điều nhiều hơn trong tim mà mình ước gì đã có cơ hội được tỏ bày với mẹ khi bà thăm mình. Và nếu mình biết lúc đó những gì mình đang biết hôm nay, mình không ngần ngại nếu chỉ có một cơ hội được ngồi với mẹ mình dù phải ngồi trên tảng băng trôi trên biển Bắc Cực đi nữa.”

Russell và tôi đứng yên, dựa vào hàng rào. Trong một lúc không ai nói gì. Chúng tôi không cần phải nói thêm gì nữa. Tôi đã hiểu ra rằng, cho đến phút này, Russell chưa hề nghĩ đến việc mẹ anh có thể qua đời khi anh ta còn ở trong tù. Trong khu tử tội, nỗi lo sợ gần nhất của một tù nhân là cái chết của riêng mình. Điều đó cuốn hút bạn nhiều đến nỗi mọi kẻ khác có vẻ như là bất tử. Dường như những người thân của bạn bên ngoài được bảo đảm sẽ sống lâu hơn bạn. Không biết bao lần tôi đã tưởng tượng chính mình ra khỏi nhà tù và được ngồi cạnh Đại Sư Chagdud tại một trong những nơi ẩn dật của ngài.

Trong một chốc, Russell chỉ nhìn chằm chặp vào tôi dường như anh ta đang đến một nơi chỉ một anh ta đến được.

Rồi, Russell nói, “Jarvis, mình không biết mình đang đi đâu đây. Tất cả những năm này, mẹ mình năn nỉ để vào thăm, mình dám nói với bà là không. Cậu biết không, mình thương mẹ vô cùng”. Russell rưng rưng nước mắt. “Và Jarvis ơi, mình là đứa con bất hiếu lắm cậu biết không?”

“Không đâu, Russ” Tôi đáp, “Có rất nhiều người, không phải tất cả đều ở trong tù thôi đâu, những người bôn ba trong cuộc sống hàng ngày, khi mẹ của họ ở ngay khu phố kế bên, hay chỉ một cú điện thoại, và họ cứ tiếp tục chạy theo cuộc sống, không buồn gọi thăm mẹ, không buồn tạo nên những kỷ niệm đáng nhớ để mang theo trong đời, thật lâu sau khi mẹ họ qua đời.”

“Đúng thế Jarvis ạ”, cậu ta nói. “Sau khi trở về xà-lim, mình sẽ ngồi xuống viết cho mẹ mình một lá thư dài. Và có thể, chỉ có thể thôi, vào Giáng Sinh, bà sẽ có thể đến thăm mình.”

“Ồ”, Tôi chọc ghẹo Russell, “Coi chừng cậu quá xấu để có thể gọi là món quà trong mắt của mẹ, Russ. Nhưng chắc chắn, mẹ cậu sẽ là món quà Giáng Sinh quý giá nhất mà cậu nhận được trong hơn mười năm đấy, phải không?”

Chúng tôi cùng cười. Và may mắn cho tôi nữa, không những Russell và cả tôi cũng được thăm viếng trong ngày Giáng Sinh. Tôi còn có được cơ hội gặp mẹ Russell. Tôi lưu ý, sau buổi thăm viếng chấm dứt, một bà cụ thấp người, hớn hở cười, trên đường ra về, còn ra dấu gởi một nụ hôn nồng thắm đến con trai mình. Bà cụ gởi nhiều nụ hôn đến nỗi gởi cả cho tôi một hay hai nụ hôn như thế nữa. Nhưng hơn thế, tôi cảm thấy tình thương của bà dành cho Russell. Và cũng ngay trong lúc đó tôi chợt ý thức đến tình thương sư phụ tôi, Đại Sư Chagdud đã dành cho tôi. Tôi cảm nhận sự hiện diện chan chứa tình thương của ngài đang chảy xuyên suốt trong tất cả chúng tôi.

Trần Trung Đạo
Giới thiệu và dịch theo Join the Campaign to Free của Jarvis Jay Masters

( LÁ THƯ NẦY ĐƯỢC ĐĂNG TRÊN BÁO TORONTO STAR VÀO DỊP LỄ MOTHER DAY)

Thưa bà, tôi có một người mẹ tuyệt diệu, người đã thương yêu, hy sinh và giúp đỡ tôi trong mọi hoàn cảnh trong những năm mới lớn, những năm đại học và ngay sau khi lập gia đinh bên cạnh tôi luôn luôn có mẹ. Mỗi khi tôi cần sự giúp đở với lủ con con nhỏ, mẹ tôi luôn luôn ở cạnh để giúp tôi.

Hôm nay là ngày chôn cất người mẹ hiền đó của tôi. Bạn có thể tưởng tưởng được cảm giác của tôi ra sao sau tang lể khi trở về nhà và tìm thấy bài thơ nầy trong hộc tủ của mẹ?

THE TIME IS NOW             
If you are ever going to love me
Love me now while I can know                                  
The sweet and tender feelings
Love me now while I am living                                   
Which from true affection flows                               
Do not wait until I’m gone                                        
And then have it chiseled in marble                          
Sweet words on ice-cold stone                                       
If you have tender thoughts of me                            
Please tell me now                                                    
If you wait till I am sleeping                                                                                                                     Never to awaken                   
There will be death between us       
And I won’t hear you then   
So, if you love me, even a little bit  
Let me know it while I am living, 
So I can treasure it                                         

LÀ LÚC NÀY ĐÂY                                                                                                   
Sông Hương dịch

Nếu cảm thấy có một ngày yêu mẹ.               
Yêu lúc nầy khi mẹ vẩn còn hay
Cảm giác ngọt ngào, mát dịu, êm say
Chảy từ suối yêu thương vô tận.              
Yêu bây giờ
Lúc này đây mẹ sống
Ðừng đợi chờ ngày khuất bóng làm chi.
Khắc lời ngọt ngào trên đá vô tri.    
Lời thật ngọt nhưng đá thì lạnh lắm
Nếu đang nghỉ đến mẹ, dịu dàng, đầm ấm,                                                                                      
Nói đi con đừng để mẹ ngủ yên.
Giấc ngủ ngàn năm, cỏi chết vô miên.
Mẹ sẽ chẳng bao giờ nghe con nửa.
Và con ơi, chút tình yêu rất nhỏ
Cho mẹ bây giờ lúc còn ở thế gian.              
Biết không con, dù chỉ một chút muộn màng.                                                 
Ðối với mẹ, ôi vô vàn trân quí.

Càng tệ hơn nửa là tôi tự nhận ra tôi đă đối xử với mẹ tôi một cách bất xứng. Tôi đă có thời gian cho tất cả mọi người mọi việc nhưng tôi đă không bao giờ có thời giờ cho mẹ. Ghé tạc vào thăm, uống với mẹ một tách cà phê, ôm mẹ một giây trong tay mình là những việc dễ làm biết mấy. Nhưng không! Đối với tôi bạn bà đă dành một chỗ quan trọng hơn là mẹ. Mặc dầu tôi biết bạn bè không hề làm được những gì ma mẹ đă làm cho tôi. 

Mỗi khi nói chuyện với mẹ bằng điện thoại, tôi luôn luôn hối hả. Bây giờ tôi mới cảm thấy xấu hổ khi nghỉ đến những lần đă cắt ngang câu chuyện của mẹ, và tôi nhớ luôn cả những lần đáng lẻ tôi phải mời mẹ tham gia trong những sinh hoạt của tôi mà tôi đă bỏ qua không làm.                                                                                        
Đời sống đầy rẫy những người con như tôi. Tôi mong họ sẻ nhận diện bản thân mình qua lá thư nầy  và tìm đựợc một chút ích lợi trong đó. Còn với tôi, tất cả đă quá muộn, mẹ tôi không còn nửa! Vì bạn biết không? Nổi hối tiếc đă làm tôi muốn bịnh!

Cũng như mọi năm, tháng tư năm 2002, tôi lại về thăm VN. Đặc biệt lần này, tôi tạt vào Nhật Bản để cùng đi với cô con gái út học ở đó đang trong dịp nghỉ mùa xuân. Thời gian nghỉ của con gái quá ngắn, không tiện cho việc đi chơi xa vì vậy bố con tôi chỉ loanh quanh ở Sàigòn. Thỉnh thoảng, vào những ngày nắng nhạt hay buổi chiều khi cái nóng của Sàigòn đã dịu xuống, tôi mới có dịp chở con gái đi thăm viếng những người quen biết hay tạt vào những quán ăn uống cho con gái biết chút đỉnh về VN                                                                                                                      
Hôm đó, khi hoàng hôn đã làm nhẹ cái nóng khô của Sài gòn tháng 4 dương lịch. Tôi và con gái đang ngồi uống dừa lạnh dưới hàng hiên của một quán nước trên con đường khá vắng xe, rợp bóng cây ở vùng quận 3 Sàigòn. Một bà bán chè khoảng tuổi trung niên, cùng với đứa con gái cỡ 12, 13 tuổi. Bà ta đặt gánh chè sát bên lề đường , ngay phía trước chiếc bàn mà bố con tôi đang ngồi..                                                                                                          
Quai trước đỡ một cái thùng bằng nhôm đựng nước rửa bát, trên thùng nước được biến chế thành cái khay nhỏ. Trên đó đựng khoảng hơn chục cái bát ăn chè úp ngăn nắp bên cạnh cái lon đựng muỗng và vài cái hộp thô thiển đựng gia vị cho món chè “đậu xanh bột báng “,  đặc biệt của của miền quê Nam Bộ . Quai sau, môt nồi chè khói bốc nghi ngút đặt trên một cái bếp than mù mờ ánh lửa khi có làn gió nhẹ thổi qua. Hai chiếc quai được nối chặt với nhau qua chiếc đòn gánh ở phía trên để giữ cân bằng và cũng tiện cho việc di chuyển.                                                
Hình như đã quá quen thuộc với công việc buôn bán. Đứa con gái giúp mẹ vài việc lặt vặt rồi cùng với mẹ chia nhau đi vào các hàng quán chung quanh để mời gọi khách ăn chè. Mỗi khi có người muốn ăn, họ lại ra gánh chè múc chè bưng đến tận tay cho khách. Chúng tôi im lặng theo dõi những cử động thuần nhuyễn của hai mẹ con với khá nhiều thích thú. Nhất là nhìn thấy vẻ vội vàng, ánh mắt vui mừng lộ rõ trên khuôn mặt khá xinh, ngây thơ của đứa con gái mỗi khi tìm được khách.                                                                                                                                           
Đúng lúc đó, từ đằng xa một chiếc honda với tiếng máy nổ chói tai, trên yên xe, hai thanh niên quần áo xanh đỏ diêm dúa đang luợn vòng, đánh võng với tốc độ khá cao. Tên ngồi đằng sau lấy chân đẩy chiếc càng chống xe, cọ sát trên mặt đường tạo ra một làn lửa xanh uốn éo theo vòng lượn của xe. Không biết vì trật tay lái hay vì tính toán không chính xác, chiếc xe chạy sát đến gánh chè, vướng vào chiếc quang trước kéo đổ thùng nước rửa cùng với đống bát ăn chè bị bể vỡ rơi tung tóe ra mặt đường. Vì chiếc đòn gánh được cột chặt vào chiếc quang phía sau, nó lại kéo nồi chè và bếp than đổ theo. Âm thanh xèo xèo của chè nóng khi chạm vào than đỏ hồng trên mặt đường sinh ra làn khói trắng bốc lên tan biến vào không gian. Mùi thoang thoảng khét của chè cháy đập vào khứu giác làm chúng tôi cảm nhận được cái thơm ngon của món chè.                                                                                               
Hình như tiếng đổ vỡ của gánh chè và  tiếng trượt bánh xe trên mặt đường đã kêu gọi mẹ con người bán chè. Từ một quán nước gần đó, cả hai hốt hỏang chạy ra, bà mẹ gào lên :                                                                              
-Trời ơi! Đổ hết gánh chè của tao rồi !Chúng bây thường cho tao !...                                                                         
Từ đằng xa, hai tên lái xe honda dừng xe cùng quay lại nhìn, khuôn mặt dù có tí chút ngạc nhiên nhưng hoàn tòan vô cảm với lời la hét của bà bán chè. Chúng quay sang nhau nói với nhau vài tiếng gì đó rồi rồ ga vọt đi, để lại đằng sau làn khói trắng cùng với tiếng rú chói tai của máy nổ.                                                                                                   
Bà bán chè vừa hét, vừa chạy theo chiếc honda. Nhưng chỉ được vài bước bà ta dừng lại vì biết rõ việc chạy theo chiếc xe phạm tội chỉ là chuyện vô ích. Đứng lại, đưa bàn tay đập vào đầu mình, khuôn mặt giận dữ nhìn theo hướng chiếc xe của hai tên tội phạm đã biến mất từ lâu, với giọng chán nản ba ta than thở :                                                   
-Trời ơi, tao sống làm sao đây, vốn liếng để nuôi cả gia đình chỉ có nồi chè mà chúng mày đã phá tan của tao rồi !...
Trong khi bà bán chè than van, khóc lóc, người hiếu kỳ dần dần bu lại. Người này nói vài lời an ủi, người kia quay ra chửi vài câu bâng quơ hai thằng du đãng. Vài người khác, tích cực hơn quay ra giúp đứa con gái thu gom những dụng cụ bát muỗng chưa bị vỡ ...Qua những lời bàn tán của đám đông cùng với lời than khóc từ bà bán chè, tôi hiểu khá rõ hoàn cảnh đáng thương của họ.                                                                                                                      
Chồng bà ta làm nghề chạy xe ôm, khoảng một năm về trước bị tai nạn giao thông tê liệt cả thân mình, hiện nay sống tàn phế trong một căn chòi ở một ngõ hẻm không xa. Hàng ngày bà ta vẫn trông nhờ vào ghánh chè để kiếm tiền nuôi chồng và 3 đứa con hãy còn bé. Đứa gái lớn nhất vừa lên lớp 7, ban ngày đi học, chiều tối theo mẹ đi buôn bán....Họ kéo dài cuộc sống thiếu thốn, khổ cực đó chỉ dựa vào một hy vọng duy nhất là mong chờ ba đứa con lớn khôn, đi làm kiếm tiền để đời sống có chút đổi thay nhàn nhã hơn.                                                                             
Đứa con gái vẫn im lặng cúi đầu, giúp mẹ thu gom vài chiếc bát còn lành lặn, xếp vào chiếc nồi nhôm đựng chè đã rỗng không. Người mẹ thu gom vật dụng nhưng vẫn không dừng thút thít khóc than. Nhìn cặp mắt ngơ ngác, đau khổ trên khuôn mặt xám đen vì cháy nắng có vài sợi tóc thấm nước mắt và đất cát vắt ngang của bà mẹ, tôi cảm thấy lòng mình chùng xuống vì thương hại.                                                                                                                 
Đám đông hiếu kỳ thưa thớt dần, con đường lại trở về với vẻ bình thường như chẳng có gì xẩy ra. Sau một lúc suy nghĩ, tôi đứng dậy trả tiền nước uống, dẫn chiếc xe gắn máy xuống đường rồi quay sang nói với con gái tôi:               
-Con giữ xe cho bố một tí.
Chẳng đợi câu trả lời của con, tôi im lặng đến bên bà bán chè, ghé sát tai hỏi nhỏ :
-Gánh chè của chị giá bao nhiêu vậy ?                                                                                                                       
Có lẽ bà bán chè tưởng rằng câu hỏi của tôi cũng như của những người khác, chỉ tò mò để mở đầu cho vài câu an ủi  hay chia buồn với nỗi bất hạnh của bà ta mà thôi. Bà bán chè ngước nhanh lên nhìn tôi không có tí gì tỏ ra chú ý, rồi lại cúi xuống sửa lại đội quang ghánh. Giọng buồn chán bà ta trả lời :
-Cả vốn lẫn lời, nếu gặp ngày may mắn bán hết cũng chẳng hơn được 80 ngàn đồng. Trừ tiền vốn  thì cũng kiếm được khỏang 40 đến 50 ngàn đồng là nhiều. Nhưng bây giờ tất cả đã mất rồi, biết lấy gì mà nuôi chồng con ? Trời ơi! Sao tôi khổ quá thế này ?                                                                                                                                    
Tôi im lặng móc túi lấy ra 2 tờ giấy 50 ngàn đồng, gấp nhỏ nhét vào bàn tay của bà ta, chẳng cần chú ý đến nét mặt ngỡ ngàng, không hiểu của bà ta. Tôi nói rất gọn:
-Thôi chị đừng khóc nữa, tôi trả tiền cho gánh chè. Coi như hôm nay chị bán hết.                                                      
Bà bán chè lúc này mới thực sự  hiểu rõ. Quay lại nhìn tôi, đôi mắt giương to, vành môi hơi mở rộng, thể hiện sự kích xúc tột cùng đang có trong bà ta. Mặc dầu tôi đã phải ấn hai tờ giấy bạc thêm một lần nữa vào bàn tay bà ta, nhưng hình như bà ta vẫn chưa tự tin hoàn toàn để cầm lấy nó. Mãi một lúc sau, khi đã có phần nào bình thản. Đưa mắt nhìn rõ 2 tờ giấy bạc trong bàn tay của mình, ra vẻ suy nghĩ tí chút. Nét buồn chán trong  ánh mắt đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là những tia nhìn mừng rỡ. Bà ta cầm lấy một tờ 50 ngàn đồng, đưa về phía tôi :                      
- Chú Hai, trời ơi! Chú tốt quá, tôi chỉ dám xin chú 50 ngàn thôi. Quá đủ cho tôi có vốn buôn bán ngày mai rồi, còn lại xin trả lại chú.                                                                                                                                                       
Hành động của bà ta làm cho tôi khá ngạc nhiên vì không thể ngờ được một người đang rơi vào hoàn cảnh khó khăn mà lại từ chối món tiền rất cần thiết cho cuộc sống của họ như bà ta. Tuy nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn đẩy nhẹ cánh tay bà ta và nói : 
-Chị cứ cầm lấy tất cả đi. Chị quên, không tính đến việc mua bát đũa, dụng cụ hư hỏng nữa hay sao ?
Bà bán chè vẫn nằng nặc nhét tờ giấy bạc vào tay tôi :
-Mấy cái chén cũ đó mua rẻ rề, chẳng đáng bao nhiêu đâu. Chú giúp tôi thế này là quá đủ và quá tốt với tôi rồi. Nhất định, tôi không dám lợi dụng quá mức, lấy của chú 100 ngàn đâu

Hành động đẩy qua, đưa lại giữa tôi và bà bán chè đã làm vài người hiếu kỳ xì xồ, bàn tán … Tôi đã cảm thấy có chút khó chịu với ánh mắt tò mò của những người đứng xem và với thái độ quá lạ kỳ của bà ta. Nửa ra vẻ đùa giỡn, nửa ra vẻ nghiêm nghị, cầm lấy cả 2 tờ giấy bạc làm như muốn bỏ trở lại vào túi mình, nhìn thẳng vào mặt bà ta tôi nói rõ từng chữ:
-Chị không muốn lấy thì thôi. Tôi chẳng còn thì giờ đứng đây lằng nhằng với chị nữa. Bây giờ chị lấy cả 2 tờ hay không lấy tờ nào, đơn giản có thế mà thôi.
Nói xong, tôi làm ra vẻ muốn quay bước đi. Đến lúc đó, bà ta mới đưa tay cầm vội lấy cả hai tờ giấy bạc.Với vẻ cảm động và sung sướng hiện rõ trên khuôn mặt, nhìn tôi lắp bắp lời cám ơn:
-Chú Hai, vậy tôi xin chú. Chú tốt với tôi quá, tôi chẳng biết lấy gì để đền đáp ơn huệ của chú . 
Tôi nói với bà ta vài câu an ủi vu vơ  rồi quay bước về phía đứa con của tôi, nó đang đứng giữ chiếc xe, đưa mắt ngẩn ngơ theo dõi diễn tiến. Mỉm cười đi về phía con, tôi không nhìn lại, nhưng biết chắc chắn đằng sau mình có ít nhất 2 khuôn mặt vui mừng của mẹ con bà bán chè đang ngơ ngác nhìn theo.
Lúc tôi sửa soạn rồ máy xe, đứa con gái của bà bán chè, vội vàng chạy đến bên cạnh cúi đầu rất kính cẩn, với vẻ e dè nhưng đầy cảm động, nói với tôi :
-Chú Hai, con cám ơn chú đã giúp đỡ gia đình con.
Tôi nhìn nó mỉm cười, đưa bàn tay vuốt mái  tóc ngắn cũn cỡn của nó, rồi vỗ nhè nhẹ vài cái vào vai của nó, với vẻ quí mến, tôi nói:
-Không có chi để cháu phải cám ơn chú. Cháu cố gắng học hành và thương yêu, giúp đỡ cha mẹ cháu là chú vui rồi -Dạ, cháu sẽ nghe lời chú Hai.                                                                                                                                  
Trước khi rồ máy xe, tôi còn thấy nó đưa tay nắm nhẹ lấy cánh tay con gái tôi và nói:
-Em cám ơn chị.

Trên đường về, bố con chúng tôi im lặng, không nói với nhau một lời nào. Nhưng  tôi biết chắc cô con gái của mình vẫn chưa thoát được những suy tư về những diễn tiến vừa xẩy ra.. Tôi cũng biết con tôi không đủ khả năng ngôn ngữ để hiểu được trọn vẹn cái sâu sắc của sự việc, nhưng tôi nghĩ rằng nó dư đủ thông minh để nhìn thấy một niềm vui đang hiện hữu trong lòng tôi và nó. Dĩ nhiên niềm vui đó có lẽ còn lớn hơn đang có trong lòng của cả hai mẹ con bà bán chè rong nghèo khổ.

Riêng tôi, tôi tự hỏi với món tiền quá bé nhỏ, chỉ hơn 6 USD, chưa đủ trả cho một ly kem tráng miệng trong bữa cơm trưa của tôi hàng ngày ở Thụy sĩ. Với món tiền quá ít ỏi như vậy mà tôi đã mua được một niềm vui rất lớn cho bố con chúng tôi và mẹ con bà bán chè bất hạnh . Giá trị của 6 USD đã được gia tăng rất nhiều, ra ngoài sự tính toán và không ngờ được của tôi. Nhờ món qua nhỏ bé đó tôi đã tái tạo được số vốn mưu sinh của một người đàn bà nghèo khổ. Xóa bỏ được bóng ma bi đát của một gia đình bất hạnh, trong đó có người cha tàn tật và ba đứa con đang tuổi ấu thơ. Đó không phải là một cuộc trao đổi rất khôn ngoan, một niềm vui to lớn mà tôi đã có được trong lần về thăm đất nước này hay sao ?                                                                                                                           
Ngồi trên chiếc xe gắn máy lăn chậm chạp trên con đường nhựa bằng phẳng. Hưởng thụ những làn gió mát buổi hoàng hôn của một ngày trời Sàigòn nhạt nắng. Tôi miên man nhớ lại với hơn 30 năm sống và làm việc ở hải ngoại. Tôi đã đi công tác ở biết bao nhiêu quốc gia nghèo khổ trên thế giới, Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc, Đông Nam Á và khá nhiều đất nước khác ở Phi châu. Bao nhiêu lần, tôi đã từng xúc động cảm thương với những hoàn cảnh khó khăn, nghèo túng của những người dân bất hạnh nơi đó. Tôi đã từng giúp đỡ, cho tặng vật chất, tiền bạc những người thiếu ăn, hoạn nạn, khốn cùng. Tôi đã nhìn thấy những nét mặt, ánh mắt biết ơn, nghe những câu nói cám ơn chân tình của họ … Nhưng có lẽ chưa bao giờ tôi gặp được một người nghèo đói, có hoàn cảnh khó khăn, đang phải đối đầu với một viễn tượng  tối đen như mẹ con bà bán chè, lại từ chối không nhận món quà mà họ đang cầu mong khi tôi đem đến gíup đỡ họ.                                                                                                                             
Tôi nghĩ rằng, có lẽ đây là một góc cạnh rất đẹp đẽ của hàng trăm góc cạnh khác, tiềm ẩn trong xã hội VN mà tôi đã đôi lần nhận biết. Theo tôi chỉ có những ai biết mở rộng  tấm lòng, biết hoà nhập vào cuộc sống của quê nhà, biết hưởng thụ cái giá trị tuy đơn sơ nhưng rất chân tình của người dân VN. Nhất là từ những người vẫn còn xa lạ với mánh mung, lừa đảo luôn luôn hiện hữu ở những thành phố, nơi đó con người phải tối tăm mặt mũi với thời gian và tiền bạc. Tôi chắc chắn từ những người nghèo khó tiền bạc nhưng rộng rãi tấm lòng đó,  chúng ta sẽ thu nhận được những nụ cười, niềm vui đôi khi làm cho chúng ta chẩy nước mắt vì cảm động . Với cá nhân tôi, chính những góc cạnh đẹp đẽ đó đã nối kéo, hấp dụ tôi tìm về thăm viếng VN hàng năm. Cũng chính nó đã gây cho tôi những cảm giác phập phồng đợi chờ mỗi khi sắp sửa về thăm nhưng lại buồn thương, nuối tiếc lúc gần phải tạm biệt, rời xa .

Lưu An - Suisse July, 2007

:Năm nay ( 2007 ) tôi lại về thăm VN vào dịp tết Âm lịch. Đây là cái tết Âm lịch đầu tiên của tôi ở trong nước sau gần 34 năm quên lãng. Trước ngày về, vợ tôi còn nhắc tôi đừng quên mang về vài chiếc bánh chưng, bánh tét cùng với vài củ sắn dây ( loại sắn mà người miền bắc thường mài để lấy bột, hoàn toàn khác với củ sắn hay khoai mì của miền Nam ), những món ăn dân giả mà vợ tôi rất thích.
Việc mua bánh chưng, bánh tét thì quá dễ, chẳng có gì để phải tìm kiếm,lúc nào muốn mua cũng có.  Nhưng sắn dây, đúng là khó khăn, tôi không ngờ khó mua như vậy. Trước khoảng 4, 5 ngày phải trở về Thụy Sĩ, tôi đã bỏ cả ngày trời ra lục lọi khắp các chợ lớn, chợ nhỏ khắp Sàigòn nhưng không có. Người ta cho biết mùa sắn dây đã qua rồi, chẳng ai còn để bán vì lái buôn đã thu mua tất cả đem đi sản xuất bột sắn để bán chợ tết rồi.
Nhưng hai ngày trước khi phải rời VN, vào khỏang 7 giờ sáng, đang chở cô em gái trên đường Phạm văn Hai. Tôi chợt thấy một cô gái đầu quấn khăn của phụ nữ người miền Nam khỏang 20, 21 tuổi, ngồi sau một đôi quang gánh trên lề đường, gần ngã ba Ông Tạ. Trên chiếc thúng là một cái nia , bầy biện đủ loại khoai luộc, trong đó cũng có vài củ sắn luộc chín, cắt khoanh. Mừng rỡ vì nghĩ rằng mình sẽ mua được món quà cho vợ. Chẳng lưỡng lự tôi vòng xe, dừng lại ngay trước chỗ cô bán khoai ngồi, rồi cùng với cô em đến hỏi cô ta.
Cô bán khoai cho biết, mỗi ngày vào buổi sáng rất sớm, có người mang sắn và khoai đã luộc sẵn bỏ mối cho cô ta, còn sắn dây sống, chưa luộc chín thì cô ta  không có! Tôi hỏi cô ta địa chỉ của người bỏ mối sắn luộc, ý muốn đến gặp họ vì cần mua loại củ sắn chưa luộc chín. Cô bán hàng cho biết người bỏ mối ở dưới Hóc Môn, nhưng trong làng xã không dễ gì tìm gặp được họ. Nghe cô gái nói, tôi cũng cảm thấy khó hy vọng vì chỉ còn 2 ngày nữa phải rời xa VN mà còn bao nhiêu việc cần phải làm. Vấn đề bỏ ngày giờ lúc bận rộn này xuống Hóc Môn để mua vài ba kg sắn dây làm quà cho vợ được coi là chuyện không thể được.Đã thế lại cũng chưa chắc gì kiếm được người có mà mua. 
Nghĩ như vậy tôi quay ra xe, coi như một việc chẳng nên ray rứt vì ra ngoài khả năng của mình. Nhưng chẳng hiểu sao, cô em tôi lại còn nán lại than van, kể lể về tôi với cô gái bán khoai:
-Chú ấy từ ngoại quốc về thăm VN ăn tết, bà vợ  là người Nhật bản nhưng lại rất thích ăn sắn dây, mấy hôm trước điện thoại sang dặn chú ấy cố mang về cho bà ấy vài ba ký lô. Suốt ngày hôm qua cô và chú ấy đã đi khắp các chợ tìm mua mà không có! Chỉ còn 2 ngày nữa phải rời khỏi VN, cô mong cháu cố gắng tìm mua cho chú ấy một ít.Giá cả thế nào cũng được, miễn là loại còn sống, chưa nấu chín là được.
Tôi cũng không ngờ, lời than van vớ vẩn của cô em lại có tác dụng kỳ lạ. Cô bán khoai đưa mắt nhìn tôi ra vẻ đăm chiêu, đắn đo, suy nghĩ… Thái độ của cô ta làm cho tôi hy vọng, đứng lại chờ đợi ý kiến của cô ta. Rồi vài lời qua lại giữa cô em tôi và cô bán khoai. Cuối cùng cô ta nói với tôi :
-Cháu muốn giúp chú lắm, nhưng không biết có kiếm được hay không vì thời gian của chú quá gấp. Im lặng một chút, cô ta nói tiếp:
-Cháu sẽ cố xem sao, nhưng nếu có thì chú định mua bao nhiêu ký lô ?
 Chẳng một tí ngần ngại, tôi trả lời liền :
-Khoảng 7, 8 ký lô hay nhiều hơn cũng chẳng sao, nhưng nếu được 10 ký-lô thì càng tốt. 
Cuối cùng em tôi cho cô ta số điện thoại di động, dặn cô ta nếu tìm được hãy báo cho em tôi bất cứ giờ giấc nào trong ngày hôm nay. Em tôi cũng không quên nhắc cô ta cố gắng làm ngay hộ,  vì tôi phải rời VN vào ngày mốt. Cô ta cho biết nội ngày hôm nay, có hay không cũng sẽ báo tin cho tôi biết để khỏi chờ mong.
Trở về nhà, bận rộn với việc sắp xếp đồ đạc để trở về Thụy Sĩ, tôi chẳng còn đầu óc để nhớ đến lời hứa hẹn của cô bán hàng rong chưa hề quen biết. Tôi nghĩ rằng chỉ là lời nói suông, làm vui lòng người khách trong việc buôn bán mà thôi. Nhưng không ngờ, buổi tối vào khỏang 9 giờ đêm, cô ta điện thoại báo tin cho em tôi biết đã tìm được sắn dây sống. Hiện cô ta đang ở nhà người bỏ mối sắn dây ở Hóc môn, giá bán là 11.000 đồng một ký. Cô ta nói, nếu tôi muốn mua, cô ta sẽ mang đến cho tôi vào khoảng 6 giờ 30 sáng ngày mai, ở chỗ cô ta ngồi bán hàng. Có lẽ để rõ ràng và muốn chứng minh với chúng tôi là cô ta không đứng trung gian ăn lời, chỉ muốn giúp đỡ tôi mà thôi. Cô ta đưa điện thoại cho em tôi trực tiếp nói chuyện với người bán sắn dây về giá cả và số lượng.
Sáng hôm sau, hai anh em chúng tôi đến chỗ hẹn sớm hơn, vì nghĩ rằng cô ta đã ở đó bán hàng rồi, nhưng khi chúng tôi đến, không có cô ta ở đó .Nhìn đồng hồ vẫn còn sớm, chúng tôi sang bên kia đường, ngồi ăn điểm tâm của một bà bán xôi trên lề đường. Qua vài câu chuyện vu vơ với bà bán xôi, chúng tôi cho bà ta biết đến đây để chờ cô bán khoai. Bà bán xôi nhìn sang bên lề đường đối diện, có tí ngạc nhiên :
-Kỳ lạ thật, hàng ngày vào giờ này, con bé bán khoai luộc luôn luôn ở bên đó rồi, sao hôm nay nó chưa đến nhỉ ?  Chắc lại bị bệnh hay có chuyện gì phải nghỉ buôn bán rồi? 
Chúng tôi nghe bà ta nói, cũng có tí nghi ngờ với lời hẹn của cô ta. Cho rằng vì một lý do nào đó không thể mang được sắn cho tôi mà tránh mặt đi bán hàng chỗ khác chăng ? Ngồi nói chuyện gẫu với bà bán xôi thêm một lúc nữa, nhìn đồng hồ cũng đã qúa hẹn vài phút. Chúng tôi sửa soạn đứng dậy ra về, tôi cũng chẳng có gì bực bội vì nghĩ rằng trách mắng một người lao động bán hàng rong vì sai hẹn là một điều vô lý chẳng nên có.
Đúng lúc chúng tôi từ giã bà bán xôi, dắt chiếc xe xuống đường sửa soạn rồ máy, từ ngã ba Ông Tạ, cô bán khoai xuất hiện, tay xách một cái bao bằng giấy dầu đang vội vã chạy lại phía chúng tôi. Với hơi thở dồn dập, khuôn mặt lấm tấm mồ hôi  có lẽ vì chiếc bao khá nặng mà cô ta còn phải chạy cho kịp thời gian. Ra vẻ mệt nhọc, cô ta nói với tôi :
-Xin lỗi chú vì xe buýt từ Hóc Môn bị kẹt đường cho nên cháu đến chậm. Cháu đã mang cho chú đúng 7 ký sắn sống đây . 
Nói xong cô ta mở bao giấy cho chúng tôi thấy 4 củ sắn dây to như bắp vế vẫn còn dính đất cát vì mới đào từ vườn lên. Trong khi em tôi nhận lấy bao củ sắn, tôi nói với cô ta :
-Chú cám ơn cháu lắm, bao nhiêu tiền để chú trả lại cháu.
-Thì như chú đã biết rồi, mỗi ký lô giá 11ngàn, vậy 7 ký gía tổng cộng là 77 ngàn đồng. 
Chẳng ngần ngừ, tôi móc túi lấy ra 80 ngàn đưa tận tay cô ta,  ra ý chẳng cần trả lại số tiền còn dư, rồi nói với cô ta vài lời cám ơn. Cô gái bình thản, rất lễ phép nói vài câu cám ơn, nhận lấy món tiền từ tay tôi trước khi chào từ giã chúng tôi, đi sang phía bên kia đường hướng về trạm xe buýt xa xa trên đường Cách Mạng Tháng 8.
Tôi vui mừng vì đã mua được món quà cho vợ, nhưng khi ngồi lên yên chiếc xe, sửa soạn về nhà. Cô em của tôi có vẻ ngần ngừ tí chút ,nói với tôi :
-Anh đưa cho cô ta 80 ngàn đồng, theo em không đủ vốn đâu. Cô ta đã phải bỏ mất một ngày đi bán khoai, phải trả tiền xe buýt đi lên đi xuống Hóc Môn giá đã 6000 đồng để mua sắn cho anh, bây giờ lại phải tốn tiền xe bus về nhà. Anh chỉ cho cô ta 3000 đồng tiền dư thừa thì làm sao mà đủ ? Em nghĩ cô ta bị lỗ to đó !
Nghe cô em nói, tôi giật mình, tự trách tính vô tâm và thiếu suy nghĩ cố hữu của mình. Quay sang cô em, tôi vội vàng thúc dục :
-Ngồi lên xe ngay, anh phải chạy theo cô ta, hy vọng xe bus đừng mang cô ta đi mất !  
Thật may mắn, vừa đến đầu ngã ba tôi đã thấy cô ta đang đứng chờ trên lề đường nơi trạm xe bus . Cảm giác ân hận vì lầm lẫn biến mất, thay vào đó là vui mừng vì biết rằng mình sẽ không áy náy vì “ăn gian” của một người buôn thúng bán bưng. Chậm rãi tôi dắt chiếc xe lên lề đường, để cho em tôi coi xe, rồi đi đến chỗ cô ta đang đứng. Cô gái bất chợt nhìn thấy tôi, không dấu được vẻ ngạc nhiên, hơi chau mày ra vẻ thắc mắc cô ta hỏi :
-Chú, chắc lại có chuyện gì nhờ cháu nữa hay sao ?
Mỉm cười, với vẻ ân cần, đưa bàn tay để nhẹ lên vai cô gái, tôi trả lời :
-Chú xin lỗi cháu, vì đã thiếu suy nghĩ mà không nhìn thấy lòng tốt và thiệt thòi quá đáng của cháu.
Chẳng chú ý đến sắc mặt ngạc nhiên, đầy thắc mắc của cô gái bán khoai. Tôi nói tiếp :
-Mà cũng tại cháu không nói cho chú biết rõ ràng. Cháu đã phải bỏ mất một ngày chợ đi mua sắn cho chú, đã mất tiền xe đi và về Hóc Môn, bây giờ cháu lại tốn tiền về nhà nữa . Chú phải trả lại cho cháu đây!
Nói xong, tôi móc trong túi ra vài tờ giấy bạc, có lẽ khoảng trên dưới 60 ngàn dồng, nhét vào tay cô ta 
Đến đây thì cô gái đã hiểu rõ sự việc, đưa tay đẩy nắm giấy bạc về phía tôi, với tí lúng túng, ngượng ngập cô ta lí nhí từ chối :
-Chú kỳ quá, món tiền quá nhỏ nhoi,chú áy náy làm gì ? Cũng là dịp cháu được nghỉ buôn bán một ngày để dưỡng sức mà .  
Chẳng chờ tôi trả lời, cô ta nói tiếp :
-Khi cháu được biết chú đã phải đi khắp các chợ để tìm mua sắn dây mang về làm qùa cho cô, cháu đã có rất nhiều cảm mến chú. Cháu cũng chẳng hiểu sao lại có cảm giác rất mến thương cô khi biết cô là người Nhật. Trong ý nghĩ của cháu, cô là người rất đẹp, rất dễ thương mà cháu nghĩ rằng mình không nhầm lẫn khi dành tình cảm cho cô, dù cô chỉ là người cháu chưa hề quen biết ! Chính ra cháu chẳng nên nói đến chữ bán buôn, lấy tiền của chú mà phải tặng cô chú mới đúng. Huống chi với vài ba ngàn đồng sai biệt có đáng là bao mà chú mà chú phải để tâm cho mệt.
Nghe cô gái nói, tôi đờ đẫn vì xúc động với lòng tốt của cô ta. Cầm lấy mấy tờ giấy bạc nhét vội vào túi áo bà ba của cô ta. Rồi cũng chẳng ngại ngần, tôi đưa cả hai tay ôm lấy cô ta ghì sát vào thân của mình để tỏ bầy sự cảm động với tấm lòng quá tốt, ra ngoài sự tưởng của tôi từ một cô gái quê mùa lam lũ. 
Trong vòng tay ôm chân tình không chút nhơ nhuốc đó. Mùi mồ hôi chưa khô từ tấm thân đen đủi bụi đường, từ chiếc áo bà ba mầu xanh lá mạ đã qúa cũ trộn lẫn mầu vàng vì nắng mưa… đập vào mũi tôi. Qua vòng tay, tôi cũng nhận biết tấm thân mạnh khỏe với những bắp thịt săn cứng của một cô gái nông thôn lao lực. Và hình như tôi cũng cảm thấy cô ta chợt có tí rung động, dù rất nhẹ. Tôi hiểu rằng sự biểu lộ tình thân quá mức của mình đã ra ngoài giới hạn nhận thức của một cô gái quê muà. Ít hay nhiều sự thân tình quá mức, đụng chạm xác thân, rất bình thường của Âu Mỹ đã làm cho cô gái cảm động, ngỡ ngàng.. Nhưng tôi chẳng có gì để ân hận vì tôi biết chắc rằng sự biểu lộ của mình hoàn toàn trong sáng, không một tí bụi nhơ. Tôi chỉ muốn diễn tả sự xúc động của mình với một người chưa hề quen biết. Một cô gái quê mùa, thô kệch có tấm lòng quá tốt, quá chân thành dành cho tôi, cho vợ tôi, người mà cô ta chỉ nhìn thấy trong tưởng tượng .
Đúng lúc đó chiếc xe buýt từ xa chạy đến, dừng sát vào lề đường. Vài tiếng thúc dục khách lên xuống của người lơ xe, cho tôi biết thời gian chỉ đủ để tôi nói với cô ta lời từ giã:
-Một lần nữa chú cám ơn cháu. Chẳng biết có dịp nào gặp lại cháu không, nhưng chú chúc cháu may mắn.
Trước khi bước vội lên xe, cô gái bán khoai quay lại nói với tôi câu gì đó nhưng vì âm thanh quá nhỏ lại cùng lúc với tiếng la hét của người lơ xe nên tôi cũng chẳng nghe rõ. Qua tấm kính mù mờ của cánh cửa xe chưa kịp khép kín, hình như tôi thấy đôi mắt cô ta rươm rướm lệ nhìn về phía tôi, đưa bàn tay vẫy chào với giọng nói hơi buồn :
-Chúc chú bình an, nhớ nhắn lời hỏi thăm cô hộ cháu.
Tôi thẩn thờ đứng nhìn theo chiếc xe buýt chầm chậm rời xa. Qua khung kính sau chiếc xe, hình như tôi vẫn nhìn thấy  khuôn mặt nhem nhuốc, ánh mắt chân tình của cô gái quê mùa, tốt bụng hướng về phía tôi. Còn tôi, trong lòng mình cũng cảm thấy có cái gì là lạ, tiếc rẻ như vừa rời xa một người bạn mà mình rất yêu quí.Tôi muốn nói với cô ta một lời cám ơn rất chân thành, xuất phát từ đáy sâu của lòng tôi. Lời cám ơn đó không phải vì cô ta đã bỏ việc buôn bán, chịu tốn kém để tìm ra những củ sắn trái mùa làm quà cho vợ tôi. Mà tôi muốn nói đến lòng tốt tuyệt vời, rất đơn sơ của một cô gái bán hàng rong nghèo túng  đã cho tôi cái cảm giác sung sướng khó tả . Chính cái cảm giác đó đã là một trong những lý do tại sao mà hàng năm tôi vẫn tìm về thăm đất nước.Tôi có cảm tưởng lòng tốt của cô ta là một trong những cấu chất đã kết gắn tôi với quê hương, Đã cho tôi hiểu rằng, cố hương của mình vẫn còn rất nhiều những cái đẹp đẽ đáng yêu, đầy xúc động mà tôi chẳng bao giờ tìm được ở những nơi khác. ./.

Lưu An
(Suisse July, 2007)

 

Posted by isoul on 18th May 2007
Đấy là lời nói cuối cùng của một em bé tám tuổi, và được khắc lại trên bia mộ em.
“Con đã từng đi qua cuộc đời này! Và con rất ngoan!”

Cha:
Cô bé Xa Diễm tám tuổi, đôi mắt đen lóng lánh và một trái tim thơ ngây non nớt, Xa Diễm mồ côi, cô bé chỉ sống trên đời vẻn vẹn 8 năm, câu cuối cùng cô nói là một lời thanh minh non nớt: “Con đã từng được sống! Và con rất ngoan!”. Xa Diễm hy vọng được chết vào mùa thu. Thân thể gầy gò của em giống một bông hoa nở theo mùa. Khi hoa vàng nở khắp mặt đất và những chiếc lá rơi chao liệng khắp nơi, em sẽ thấy cả những đàn nhạn di cư bay ngang trời xa.
Em tự nguyện bỏ điều trị, và dùng toàn bộ 540 nghìn Nhân dân tệ (gần 1,1 tỷ đồng tiền VN) để chia thành 7 phần, mang sinh mệnh chính mình chia ra thành những phần bánh hy vọng tặng cho bảy người bạn nhỏ đang chiến đấu giữa lằn ranh của sự sống và cái chết khác.
“Tôi tình nguyện từ bỏ điều trị”
Xa Diễm không biết ai là cha đẻ của mình, em chỉ có “cha” là người thu nhận em về nuôi nấng.
Ngày 30/11/1996 (20/10 âm lịch), “cha” Xa Sĩ Hữu phát hiện một hài nhi mới sinh bị vứt bỏ đang thoi thóp và lạnh toát trong đống cỏ bên chân một cây cầu nhỏ ở thị trấn Vĩnh Hưng, ngực hài nhi cài một mẩu giấy nhỏ, chỉ ghi vắn tắt “20 tháng 10, 12 giờ đêm”.
Khi đó, cha Xa Sĩ Hữu tròn 30 tuổi, nhà ở tổ 2, thôn Vân Nha, thị trấn Tam Tinh, huyện Song Lưu, tỉnh Tứ Xuyên. Vì nhà nghèo quá, không cưới được vợ, nếu cha nhận nuôi thêm đứa trẻ này, có lẽ càng chẳng báo giờ có cô nào chịu lấy cha nữa. Vì vậy, nhìn đứa trẻ còi như con mèo bé vừa khóc vừa ngáp ngáp thút thít, Xa Sĩ Hữu mấy lần nhặt lên rồi lại đặt xuống, bỏ đi rồi lại ngoái lại nhìn, đứa bé thân mình đầy bùn đất lạnh, tiếng khóc yếu ớt, nếu không ai cứu, chả mấy mà đứt sinh mệnh! Cắn răng, anh ôm đứa bé lên lần nữa, thở dài nói: “Thôi thì tao ăn gì, mày ăn nấy!”.
Xa Sĩ Hữu đặt tên cho đứa bé là Xa Diễm, vì bé sinh ra vào mùa thu, đúng mùa thu hoạch mùa màng hoa trái đủ đầy. Đàn ông một mình làm bố, không có sữa mẹ, cũng không có tiền mua sữa bột, đành bón con những thìa cháo hoa. Vì thế, Xa Diễm từ nhỏ đã còi cọc, yếu đuối, lắm bệnh, nhưng là một đứa trẻ vô cùng ngoan và hiểu biết. Xuân đi xuân lại, Xa Diễm như bông hoa nhỏ trên dây Khổ Đằng, lớn khôn dần, vô cùng thông minh và ngoan ngoãn.
Hàng xóm đều nói, những đứa trẻ bị bỏ rơi được nhặt về nuôi, bao giờ trí óc cũng khôn ngoan thông minh hơn người. Và mọi người đều yêu Xa Diễm. Dù em từ nhỏ đã hay bệnh tật liên miên, nhưng trong sự nâng niu xót thương của cha, em cũng lớn lên dần.
Những đứa trẻ số phận đau khổ thường khác người. Từ lúc 5 tuổi, em rất biết ý thức giúp cha làm việc nhà, giặt giũ quần áo, nấu cơm, cắt cỏ em đều biết làm thành thạo. Em biết thân phận mình không được như những đứa trẻ con nhà người khác, trẻ con hàng xóm có bố có mẹ, nhà mình chỉ có cha. Gia đình nhỏ này do hai bố con lụi hụi chống đỡ xây đắp, em cần phải thật ngoan thật ngoan, không để cha lo lắng thêm chút nào, hoặc giận em một lần nào.
Vào học lớp Một, Xa Diệm biết mình phải cố gắng. Em xếp thứ Nhất trong lớp, làm người cha mù chữ của mình cũng mở mày mở mặt với làng xóm. Em chưa bao giờ để cha phải thất vọng. Em hát cho cha nghe, kể những chuyện vui vẻ ở trường cho cha nghe, những phiếu bé ngoan hay hoa điểm tốt em đều dán lên vách tường. Đôi khi em bướng bỉnh ra những đề bài khó để bắt cha phải giải được… Mỗi lúc nhìn thấy cha cười, em đều vui sướng.
Dù con không có mẹ, nhưng con có thể sống vui vẻ cùng cha, đó là hạnh phúc!

Lần đầu tiên trong đời được uống sữa, ảnh chụp sau khi Xa Diễm quay lại bệnh viện với số tiền được quyên góp giúp đỡ.

Tháng 5/2005, Xa Diễm thường bị chảy máu cam. Một buổi sáng ngủ dậy định rửa mặt, đột ngột em phát hiện cả chậu nước rửa mặt đã biến thành màu hồng. Nhìn kỹ, là máu mũi đang nhỏ giọt xuống, không cầm máu được. Không còn cách nào khác, Xa Sĩ Hữu mang con đi tiêm ở bệnh xá địa phương, nhưng không ngờ, một vết mũi tiêm bé tí xíu cũng chảy máu mãi không ngừng. Trên đùi Xa Diễm cũng xuất hiện nhiều “Vết châm kim đỏ”. Bác sĩ nói, “Mau lên bệnh viện khám ngay!”, đến được bệnh viện Thành Đô, đúng lúc bệnh viện đang đông người cấp cứu, Xa Diễm không lấy được số thứ tự xếp hàng khám. Xa Diễm ngồi một mình ngoài ghế dài, tay bịt mũi, hai đường máu chảy thành hàng dọc từ mũi xuống, nhuộm hồng cả nền nhà, cha em cảm thấy ngại ngùng, chỉ biết lấy cái bô đựng nước tiểu để hứng máu, chỉ mười phút, cái bô đã lưng nửa.
Bác sĩ phát hiện ra, vội cuống quýt ôm Xa Diễm đi khám. Sau khi kiểm tra, bác sĩ ngay lập tức viết đơn Thông báo khẩn cấp bệnh tình của em. Xa Diễm mắc bệnh máu trắng (Bạch cầu cấp - acute leucimia).
Chi phí điều trị căn bệnh này vô cùng đắt đỏ, thông thường điều trị cơ bản đã cần 300 nghìn Nhân dân tệ (tương đương 600 triệu VND), Xa Sĩ Hữu choáng váng.
Nhìn con gái nằm trên giường bệnh, ông không thể chần chừ suy nghĩ nữa, ông chỉ có một ý nghĩ: Cứu con!

Vay khắp bạn bè họ hàng, chạy đông chạy tây tiền chỉ như muối bỏ biển, so với số 300 nghìn tệ cần có sao xa vời. Ông quyết định bán cái duy nhất có thể ra tiền là căn nhà xây bằng gạch mộc, gạch chưa nung của mình. Nhưng nhà thì quá rách nát, lúc đó không thể tìm ra ai muốn mua nó.
Nhìn gương mặt gầy gò xơ xác và đôi mắt u uất của cha, Xa Diễm có một cảm giác đau xót. Một lần, Xa Diễm kéo tay cha lại, chưa nói nhưng nước mắt đã trào ra: ‘Cha ơi, con muốn được chết…”
Đôi mắt Xa Sĩ Hữu kinh ngạc nhìn con gái: “Con mới 8 tuổi thôi, vì sao con lại muốn chết?”
“Con chỉ là đứa bé bị bỏ rơi nhặt về, ai cũng bảo số con bạc bẽo, giờ bệnh này không chữa được, cha cho con ra viện đi…”
Ngày 18/5, bệnh nhân tám tuổi Xa Diễm thay mặt người cha mù chữ, tự ký rành rọt tên vào trong cuốn bệnh án của chính mình: “Tự nguyện từ bỏ chữa trị cho Xa Diễm”.

“Em tự nguyện từ bỏ!”

Đứa trẻ tám tuổi tự lo hậu sự:
Hôm đó về nhà, một đứa trẻ từ nhỏ đến lớn chưa từng vòi vĩnh cha bất cứ điều gì, đã đòi cha hai yêu cầu: Em muốn có một tấm áo mới, và em muốn được chụp một bức ảnh. Em giải thích cho cha: “Sau này, khi con không còn nữa, nếu cha nhớ con, cha có thể nhìn con ở trong ảnh”.
Ngày hôm sau, cha Xa Sĩ Hữu nhờ người cô đi cùng đưa cháu lên thị trấn, tiêu hết 30 tệ (60.000 VNĐ) mua một bộ quần áo mới, Xa Diễm tự mình chọn một chiếc quần cộc màu hồng phấn, người cô chọn cho Xa Diễm một chiếc váy trắng chấm đỏ, nhưng khi mặc thử Xa Diễm mặc thử, thấy tiếc rẻ nên lại cởi ra. Ba người đi đến tiệm chụp ảnh, Xa Diễm mặc bộ đồ màu hồng mới tinh, ngón tay đưa ra hình chữ V, cố gắng mỉm cười, nhưng cuối cùng cũng không kìm được để nước mắt chảy ra.
Em đã không thể đến trường nữa, em xách cái cặp đứng trên con đường nhỏ đầu làng, mắt ươn ướt.
Nếu không có một phóng viên tên là Truyền Diễm của tờ “Thành Đô buổi chiều”, thì chắc Xa Diễm sẽ chỉ như một phiến lá cây khô rụng xuống, lẳng lặng bị cuốn đi theo gió.
Cô phóng viên này sau khi biết tin từ bệnh viện, đã viết một bài báo, kể lại toàn bộ câu chuyện của Xa Diễm. Sau khi bài báo “Đứa trẻ 8 tuổi tự lo hậu sự” được đăng, cả thành phố Thành Đô đều bị cảm động, cả mạng Internet toàn Trung Quốc cũng cảm động, có một phong trào lan truyền trên khắp Trung Quốc, trong cả đời sống thật của thế giới người Hoa lẫn trên mạng ảo, những người có lòng tốt bắt đầu quyên góp để cứu sinh mệnh mong manh của cô bé. Trong vòng mười ngày, con số quyên góp từ toàn thể người Hoa đã lên tới 560 nghìn Nhân dân tệ, đủ để chi phí phẫu thuật, và hy vọng cuộc sống của Xa Diễm lại được thổi bùng lên từ bao nhiêu trái tim nhân ái. Sau khi tuyên bố kết thúc quyên góp, vẫn còn nhiều khoản tiền chuyển về tài khoản quyên góp. Các bác sĩ cũng cố sức, dốc hết sức lực và tài năng chuyên môn để cứu chữa cho Xa Diễm, tất cả hàng triệu người đều hy vọng thành công.

Tờ “Thành Đô buổi chiều” có đăng bài về em

Trên internet, nhiều lời nhắn gửi: “Xa Diễm, cô bé yêu quý của tôi, tôi hy vọng em sớm mạnh khoẻ rời bệnh viện, tôi cầu chúc cho em quay lại trường học, tôi mong mỏi em bình an lớn lên, tôi khao khát tôi sẽ được vui sướng tiễn em về nhà chồng…”
Ngày 21/6, Xa Diễm, cô bé đã từ bỏ trị liệu quay về nhà chờ thần Chết, đã lại được đưa về Thành Đô, vào bệnh viện Nhi. Tiền có rồi, sinh mệnh mỏng manh có hy vọng và có lý do để tiếp tục được sống.

Nhập viện lần thứ hai sau khi có tiền quyên góp, trong bộ quần áo mới cuối cùng.

Xa Diễm chịu đựng đợt hoá trị khó chịu. Trong cửa kính, Xa Diễm nằm trên giường truyền dịch, đầu giường đặt một chiếc ghế, ghế để một cái âu nhựa, thỉnh thoảng em quay người sang đó nôn. Sự kiên cường cửa đứa bé khiến người lớn cũng kinh ngạc. Bác sĩ Từ Minh, người điều trị chính cho em giải thích, giai đoạn hoá trị, đường ruột và dạ dầy sẽ phản ứng kích liệt, thời gian đầu mới hoá trị, mỗi lần Xa Diệm nôn đều nhiều, nửa âu, nhưng đến “ho” một tiếng cũng không. Trong lúc kiểm tra tuỷ xương khi nhập viện, mũi tiêm đâm từ ngực, em “không khóc, không kêu la, cũng không chảy nước mắt, đến động đậy cũng không dám”.
Từ khi ra đời cho tới lúc chết, em không có được một chút xíu tình yêu của mẹ. Khi bác sĩ Từ Minh đề nghị: “Xa Diễm, làm con gái bác đi!” mắt em sáng rực lên, rồi nước mắt tuôn xuống xối xả. Ngày hôm sau, khi bác sĩ đến đầu giường bệnh, Xa Diễm bẽn lẽn gọi: “Mẹ!”. Bác sĩ lặng đi một chút, rồi từ từ mỉm cười, ngọt ngào đáp lại: “Con gái, ngoan lắm!”
Tất cả mọi người đều chờ đợi một phép lạ, tất cả đều hy vọng giây phút Xa Diễm được trở về với cuộc sống. Rất nhiều người từ thành phố vào bệnh viện thăm em, trên mạng nhiều người hỏi thăm em, số mệnh của Xa Diễm làm mạng Internet xa lạ trở nên đầy ắp ánh sáng.
Trong phòng bệnh đầy hoa và trái cây, tràn đầy hương thơm.
Hai tháng hoá trị, Xa Diễm qua được chín cửa “Quỷ môn quan”, sốc nhiễm trùng, bệnh bại huyết septicemia, tan máu, xuất huyết ồ ạt đường tiêu hoá… lần nào cũng “hung hoá cát”. Những liệu trình đều do các bác sĩ huyết học Nhi hàng đầu của tỉnh và Trung Quốc chuẩn đoán quyết định, hiệu quả rất khả quan. Bệnh máu trắng căn bản đã được khống chế. Tất cả đang chờ tin Xa Diễm lành bệnh.
Nhưng những bệnh tật đi theo những tác dụng phụ của hoá chất trị liệu rất đáng sợ. Và so với hầu hết những đứa trẻ bị bệnh máu trắng khác, thể chất Xa Diễm rất yếu ớt. Sau đợt phẫu thuật, sức khoẻ Xa Diễm càng kém.
Buổi sáng ngày 20/8, em hỏi phóng viên Truyền Diễm: “Dì ơi, xin dì cho con biết, vì sao mọi người quyên góp tiền cho con?”
“Bởi vì họ đều có lòng tốt!”
“Dì ơi, con cũng làm người tốt.”
“Bản thân con đã là một người tốt. Những người tốt sẽ giúp đỡ nhau, mới làm nên những điều càng thiện lương.”
Xa Diễm móc từ dưới gối ra một cuốn vở bài tập, đưa cho Truyền Diễm: “Dì ơi, đây là di chúc của con…”
Phóng viên Truyền Diễm kinh ngạc, vội vã mở vở ra, quả nhiên là những việc Xa Diễm thu xếp hậu sự. Đây là một đứa trẻ tám tuổi sắp về cõi chết, nằm bò trên giường bệnh dùng bút chì nắn nót viết ba trang “Di chúc”. Vì em còn nhỏ quá, còn nhiều chữ Hán chưa học nên chưa viết được hết, còn có những chữ viết sai. Xem có thể biết em không thể viết một mạch bức thư này, mà viết sáu đoạn. Mở đầu là “Dì Truyền Diễm”, kết thúc là “Tạm biệt dì Truyền Diễm”. Suốt cả bức thư, chữ “Dì Truyền Diễm” xuất hiện 7 lần, và 9 lần gọi tắt là Dì. Phía sau 16 chữ xưng hô này, tất cả là những điều “nhờ vả dì làm hộ” khi em lìa đời. Và còn cả lời muốn qua phóng viên “cảm ơn” và “tạm biệt” với cả thế giới.
“Tạm biệt dì, chúng ta sẽ gặp nhau trong mơ. Dì Truyền Diễm, nhà cha con sắp sập rồi. Cha đừng buồn, xin cha cũng đừng nhảy lầu. Dì Truyền Diễm xin dì trông coi bố con. Dì ơi, cái tiền của con cho trường con một ít ít, cảm ơn dì chuyển lời cảm tạ tới Hội trưởng Hội Hồng thập tự. Con chết xong, mang hết chỗ tiền còn lại chia ra cho những người mắc bệnh giống con, giúp họ đỡ bị bệnh hơn…”
Bức di chúc làm Truyền Diễm giàn giụa nước mắt, khóc không thành tiếng.
Con đã từng được sống, con rất ngoan
Ngày 22/8, vì đường tiêu hoá xuất huyết, dường như suốt một tháng trời Xa Diễm không được ăn mà chỉ sống bằng dịch truyền. Và lần đầu tiên em “ăn vụng”, em bẻ một mẩu nhỏ mì ăn liền khô bỏ vào mồm. Ngay lập tức đường ruột của em xuất huyết nghiêm trọng, bác sĩ y tá khẩn cấp truyền máu, truyền dịch cho em…
Nhìn Xa Diễm đau bụng lăn lộn, bác sĩ và y tá đều bật khóc. Tất cả mọi người đều muốn gánh đau cho em, nhưng, không thể làm gì được.
Tám tuổi. Xa Diễm đã thoát được cơn bệnh tật quái ác, và ra đi an lành.
Không ai chấp nhận sự thật. Phóng viên Truyền Diễm vuốt vuốt gương mặt bé xíu lạnh dần đi của cô bé, khóc không thành tiếng, gương mặt sẽ không bao giờ gọi cô là Dì nữa, cũng sẽ không bao giờ cười nữa.
Mạng TứXuyênonline , mạng 163 (mạng Internet nổi tiếng nhất TQ) ngập trong nước mắt, mạng Xinhuanet toàn nước mắt. “Đau lòng đến không thể thở được” sau đầu đề topic đó là hàng vạn lời nhắn cảm xúc của các công dân mạng TQ. Hoa viếng, điếu văn, một người đàn ông trung niên khẽ nói: “Con, con vốn là một thiên sứ nhỏ trên trời, con đã dang đôi cánh, thôi con cứ ngoan ngoãn bay đi..”
Ngày 26/8, tang lễ diễn ra dưới một cơn mưa nhỏ, Nhà tang lễ ở ngoại thành phía Đông của thành phố Thành Đô chật ních những người dân Thành Đô đi viếng với nước mắt rưng rưng. Họ đều là những “người cha, người mẹ” của Xa Diễm mà Xa Diễm chưa có dịp gặp mặt. Để đứa bé mới sinh ra đời đã bị vứt bỏ, đã mắc bệnh máu trắng, đã từ bỏ chữa trị, đã chết… không còn cô đơn nữa. Rất nhiều “Cha-mẹ” đội mưa tiễn theo sau chiếc quan tài bé nhỏ.
Bức ảnh trên đầu Entry trong blog Trang Hạ đã chụp bia mộ của Xa Diễm: Một bức ảnh Xa Diễm cười mím mím, tay cầm một bông hoa dại bé xíu. Mặt chính của bia chỉ ghi vỏn vẹn: ” Con đã từng được sống, con rất ngoan! (1996.11.30-2005-8.22)”
Mặt sau bia có ghi vài lời đơn giản giới thiệu thân thế Xa Diễm, câu cuối cùng là: “Trong những năm Em sống, Em đã được nhận những ấm áp của con người. Xin Em yên nghỉ, thiên đường có Em nên thiên đường càng đẹp đẽ.”
Theo đúng chúc thư, 540.000 Nhân dân tệ còn thừa lại chia thành những tặng vật chia cho những em bé khác bị mắc bệnh máu trắng. Bệnh viện còn ghi lại tên của 7 bệnh nhân Nhi này, Dương Tâm Lâm, Từ Lê, Hoàng Chí Cường, Lưu Linh Lộ, Trương Vũ Tiệp, Cao Kiện, Vương Kiệt. Những bệnh nhân này lớn nhất là 19 tuổi, nhỏ nhất là 2 tuổi, đều là những em gia đình quá nghèo, đang giãy dụa giữa sự sống và cái chết.
Ngày 24/9, ca phẫu thuật đầu tiên thành công dành cho bệnh nhân được nhận viện phí từ Xa Diễm, là cô bé Từ Lê ở bệnh viện Hoa Tây. Sau phẫu thuật, Từ Lê mỉm cười với gương mặt trắng xanh, nói: “Xa Diễm, hay yên nghỉ, về sau này, bia mộ của chúng tôi cũng sẽ ghi thêm một dòng như nhau: “Tôi đã từng đến trong đời này, và tôi rất ngoan!”

Suốt thời thơ ấu và cả khi lớn lên, lúc nào tôi cũng ghét mẹ tôi. Lý do chính có lẽ vì bà chỉ có một con mắt. Bà là đầu đề để bạn bè trong lớp chế giễu, châm chọc tôi.

Mẹ tôi làm nghề nấu ăn để nuôi tôi ăn học. Một lần bà đến trường để kiếm tôi làm tôi phát ngượng. Sao bà lại có thể làm như thế với tôi? Tôi bảo bà đi, ném cho bà một cái nhìn đầy căm ghét rồi chạy biến.

Ngày hôm sau, một trong những đứa bạn học trong lớp la lên: “Ê, tao thấy rồi, Mẹ mày chỉ có một mắt!”.

Tôi xấu hổ chỉ muốn chôn mình xuống đất. Tôi chỉ muốn bà biến mất khỏi cuộc đời tôi. Ngày hôm đó đi học về tôi nói thẳng với bà: “Mẹ chỉ muốn biến con thành trò cười!”.

Mẹ tôi không nói gì. Còn tôi, tôi chẳng để ý gì đến những lời nói đó, vì lúc ấy lòng tôi tràn đầy giận dữ. Tôi chẳng để ý gì đến cảm xúc của mẹ. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi nhà không còn liên hệ gì với mẹ tôi. Vì thế tôi cố gắng học hành thật chăm chỉ và sau cùng tôi có được một học bổng để đi học ở Singapore.

Sau đó, tôi lập gia đình, mua nhà và có mấy đứa con. Vợ tôi là con nhà gia thế, tôi giấu nàng về bà mẹ của mình, chỉ nói mình mồ côi từ nhỏ. Tôi hài lòng với cuộc sống, với vợ con và những tiện nghi vật chất tôi có được ở Singapore. Tôi mua cho mẹ một căn nhà nhỏ, thỉnh thoảng lén vợ gởi một ít tiền về biếu bà, tự nhủ thế là đầy đủ bổn phận. Tôi buộc mẹ không được liên lạc gì với tôi.

Một ngày kia, mẹ bất chợt đến thăm. Nhiều năm rồi bà không gặp tôi, thậm chí bà cũng chưa bao giờ nhìn thấy các cháu. Khi thấy một bà già trông có vẻ lam lũ đứng trước cửa, mấy đứa con tôi có đứa cười nhạo, có đứa hoảng sợ. Tôi vừa giận vừa lo vợ tôi biết chuyện, bèn hét lên: “Sao bà dám đến đây làm con tôi sợ thế? Ði khỏi đây ngay!”

Mẹ tôi chỉ nhỏ nhẹ trả lời “Ồ, xin lỗi tôi nhầm địa chỉ!” và lặng lẽ quay đi. Tôi không thèm liên lạc với bà trong suốt một thời gian dài.

Hồi nhỏ, mẹ đã làm con bị chúng bạn trêu chọc nhục nhã, bây giờ mẹ còn định phá hỏng cuộc sống đang có của con hay sao?

Một hôm, nhận được một lá thư mời họp mặt của trường cũ gởi đến tận nhà, tôi nói dối vợ là phải đi công tác. Sau buổi họp mặt, tôi ghé qua căn nhà của mẹ, vì tò mò hơn là muốn thăm mẹ. Mấy người hàng xóm nói rằng mẹ tôi đã mất vài ngày trước đó và do không có thân nhân, sở an sinh xã hội đã lo mai táng chu đáo.

Tôi không nhỏ được lấy một giọt nước mắt. Họ trao lại cho tôi một lá thư mẹ để lại cho tôi:

“Con yêu quý,

Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi về việc đã dám qua Singapore bất ngờ và làm cho các cháu phải sợ hãi. Mẹ rất vui khi nghe nói con sắp về trường tham dự buổi họp mặt, nhưng mẹ sợ mẹ không bước nổi ra khỏi giường để đến đó nhìn con. Mẹ ân hận vì đã làm con xấu hổ với bạn bè trong suốt thời gian con đi học ở đây.

Con biết không, hồi con còn nhỏ xíu, con bị tai nạn và hỏng mất một bên mắt. Mẹ không thể ngồi yên nhìn con lớn lên mà chỉ có một mắt, nên mẹ đã cho con con mắt của mẹ. Mẹ đã bán tất cả những gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con, nhưng chưa bao giờ mẹ hối hận về việc đó. Mẹ rất hãnh diện vì con đã nên người và mẹ kiêu hãnh vì những gì mẹ đã làm được cho con. Con đã nhìn thấy cả một thế giới mới bằng con mắt của mẹ, thay cho mẹ...

Mẹ yêu con lắm,

Mẹ

Vô danh

Ngày xưa có bà cung phi được vua yêu tên là Triệu Phi Yến, bà thèm ãn một giống vải đặc biệt thổ sản của một vùng đất cách rất xa kinh thành. Cứ đến mùa vải có trái, thế nào các quan hầu cận cũng phải phi ngựa đến vùng ấy để mua về cung những trái vải đầu mùa cho nàng Phi Yến ăn. Người ngựa vừa lên đường thì bà ta trông ngóng từng giờ phút để được thưởng thức những trái vải chín thơm ngon ngọt.

Vua biết thế nên ra lệnh cho quan quân phi ngựa gấp rút trong một thời hạn kỷ lục để đem vải về, nếu đúng hạn sẽ trọng thưởng, nhưng nếu trể thì sẽ bị chém đầu. Vì  thế, quan quân đều lo ngay ngáy ra roi cho đàn ngựa phi nước đại trên đường trường cát bụi. Những con ngựa bị roi da quất đau điếng, lưng rớm máu mà vẫn phải chạy như bay. Máu trên lưng những con ngựa nhỏ xuống, nhuộm hồng lớp bụi đất trên đường nên khi gió nổi cát bay thì thấy không gian toàn một màu đỏ hồng. Về sau văn chương dùng chữ “bụi hồng” để ám chỉ cuộc đời này, vừa thi vị mà vừa sâu sắc: cuộc đời là một biển khổ bao la khi nó được ngự trị bởi lòng ham muốn: ông vua tham sắc, các quan tham bổng lộc, nàng Phi Yến tham ăn và con ngựa tham sống. Tất cả cái tham đó làm cho cuộc đời này trở thành một trường tranh đấu gian khổ, thành chốn “Bụi Hồng”

Hồi ấy bên Tàu có một người gánh nước mang hai chiếc bình lớn treo hai đầu một cái đòn gánh đeo ngang cổ.  Một trong hai bình ấy bị một vết nứt, còn bình kia thì tuyệt hảo và luôn luôn đem về đủ lượng một bình đầy nước.  Cuối đoạn đường dài từ con suối về đến nhà, chiếc bình nứt lúc nào cũng vơi chỉ còn một nửa bình.

Suốt hai năm tròn ngày nào cũng vậy, người gánh nước chỉ mang về nhà có một bình rưỡi nước.  Dĩ nhiên, cái bình nguyên vẹn rất hãnh diện về thành tích của mình, hoàn tất cách tuyệt hảo nhiệm vụ nó được tạo ra để thi hành.  Còn tội nghiệp chiếc bình nứt, nó rất xấu hổ về khuyết điểm của mình, và khổ sở vì chỉ hoàn tất được có một nửa công việc nó được tạo ra để làm.

Sau 2 năm chịu đựng cái mà nó cho là một thất bại chua cay, một ngày nọ chiếc bình nứt bèn lên tiếng với người gánh nước bên bờ suối:

“Con thật lấy làm xấu hổ, vì vết nứt bên hông làm rỉ mất nước suốt dọc đường đi về nhà bác."

Người gánh nước trả lời:

“Con đã chẳng để ý thấy chỉ có hoa mọc trên đường đi bên phía của con à?  Ðó là vì ta vẫn luôn biết cái khuyết điểm của con, nên ta đã gieo hạt hoa dọc đường bên phía của con, và mỗi ngày trên đường mình đi về con đều đã tưới nước chúng nó ...  Hai năm nay ta vẫn luôn hái được mấy đóa hoa đẹp đó để chưng trên bàn.  Nếu mà con không phải là con y như thế này, thì trong nhà đâu có được trang hoàng đẹp đẽ như vậy."

Mỗi người trong chúng ta đều có những khuyết điểm rất riêng biệt.  Ai cũng đều là bình nứt cả.  Nhưng chính các vết nứt và khuyết điểm đó của từng người trong chúng ta mới khiến cho đời sống chung của chúng ta trở nên thú vị và làm chúng ta thỏa mãn.  Chúng ta phải chấp nhận cá tính của từng người trong cuộc sống, và tìm cho ra cái tốt trong họ.

Vạn hạnh cho tất cả các bạn ‘Chiếc Bình Nứt’ của tôi!

(Trích thư của Tổng thống Mỹ, Abraham Lincoln gửi thầy hiệu trưởng ngôi trường nơi con trai ông theo học)

•Con tôi sẽ phải học tất nhũng điều này, rằng không phải tất cả mọi người đều công bằng, tất cả mọi người đều chân thật. Nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết cứ mỗi một kẻ vô lại ta gặp trên đường phố thì ở đâu dó sẽ có một người chính trực; cứ mỗi một chính trị gia ích kỷ, ta sẽ có một nhà lãnh đạo tận tâm. Bài học này sẽ mất nhiều thời gian, tôi biết; nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết rằng một đồng đôla kiếm được do công sức lao động của mình bỏ ra còn qúy giá hơn nhiều so với năm đôla nhặt được trên hè phố.

•Xin hãy dạy cho cháu biết cách chấp nhận thất bại và cách tận hưởng niềm vui chiến thắng. Xin hãy dạy cháu tránh xa sự đố kỵ. Xin dạy cháu biết được bí quyết của niềm vui chiến thắng thầm lặng. Dạy cho cháu biết được những kẻ hay bắt gạt người khác nhất lại là những kẻ dể bị đánh bại nhất …

•Xin hãy giúp cháu nhìn thấy thế giới kỳ diệu của sách … nhưng cũng cho cháu có đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong ánh nắng và những bông hoa nở ngát bên đồi xanh.

•Ở trường xin thầy hãy dạy cho cháu chấp nhận thi trượt còn vinh dư hơn gian lận trong khi thi. Xin giúp cháu có niềm tin vào ý kiến riêng của bản thân, dù tất cả mọi người xung quanh đều cho rằng ý kiến đó hoàn toàn sai lầm….

•Xin hãy dạy cho cháu đối xử dịu dàng với những người hoà nhã và cứng rắn với những kẻ thô bạo. Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo thời thế.

•Xin hãy dạy cho cháu biết phải lắng nghe tất cả mọi người nhưng cũng xin thầy dạy cháu biết cần phải sẵn sàng lọc những gì nghe được qua tấm lưới chân lý để cháu chỉ đón nhận những gì tốt đẹp.

•Xin hãy dạy cho cháu biết cách mỉm cười khi buồn bã …. Xin hãy dạy cháu biết rằng không có sự xấu hổ trong những giọt nước mắt. Xin hãy dạy cho cháu biết chế giễu những kẻ yếm thế và cẩn trọng trước sự ngọt ngào đầy cạm bẫy.

•Xin hãy dạy cho cháu rằng có thể bán cơ bắp và trí tuệ cho người ra giá cao nhất, nhưng không bao giờ cho phép ai ra giá mua trái tim và tâm hồn mình.

•Xin hãy đối xử diu dàng với cháu nhưng đừng vuốt ve nuông chiều cháu bởi vì chỉ có sự thử thách của lửa mới tôi luyện được những thanh sắt cứng rắn.

•Xin hãy dạy cho cháu biết rằng cháu phải luôn có niềm tin tuyệt đối vào bản thân, bởi vì khi đó cháu sẽ luôn có niềm tin tuyệt đối vào nhân loại.

•Đây quả là một yêu cầu quá lớn, tôi biết, thưa thầy, nhưng xin thầy cố gắng hết mình …. Con trai tôi quả thật là một cậu bé tuyệt vời.

GS Tề Quốc Lực là một người Mỹ gốc Hoa. Ông đã từng làm việc cho Tổ chức y tế thế giới (WHO) nhiều năm. Mới đây ông được Bộ y tế Trung Quốc mời về Bắc Kinh nói về sức khỏe. Bài nói của ông được công chúng hoan nghênh và đã được đãng tải trên nhiều tờ báo của Trung Quốc.
Hiện nay tuyệt đại đa số là chết vì bệnh, rất ít người bị chết vì già. Lẽ ra phải tuyệt đại đa số chết vì già, còn thiểu số chết vì bệnh. Hiện tượng cực kỳ bất bình thường này đòi hỏi chúng ta phải mau chóng sửa chữa. Gần đây Liên hiệp quốc biểu dương nước Nhật Bản vì tuổi thọ của họ đạt quán quân thế giới. Tuổi thọ trung bình ở nữ giới của họ là 87.6 ; còn ở Trung Quốc chúng ta thập kỷ 50 là 35 tuổi, thập kỷ 60 là 57 tuổi, hiện nay là 67.88 tuổi; kém Nhật Bản đúng 20 tuổi.
Kinh nghiệm của Nhật Bản là lấy xã khu làm đơn vị, mỗi tháng giảng bài một lần về sức khỏe, ai không đến nghe thì phải học bù. Chúng ta không có chế độ đó, ai muốn nghe thì nghe, không nghe thì thôi. Sau khi về nước, tôi có hỏi nhiều người rằng nên sống bao lâu ? Có người bảo tôi 50 - 60 tuổi là tạm được rồi, điều này chứng tỏ tiêu chuẩn của chúng ta quá thấp. Đại bộ phận họ không biết gì đến giữ gìn sức khoẻ, sống được sao hay vậy, vấn đề rất nghiêm trọng. Tôi đã công tác ở bệnh viện 40 năm, tuyệt đại bộ phận người chết bệnh là rất đau khổ. Tôi đến đây mục đích rõ ràng, tôi được sự uỷ thác của khoa học, tuân theo chì thị của bộ y tế, mong rằng mọi người đều coi trọng công tác giữ gìn sức khoẻ.
Thật ra trên thế giới, người ta họp ở Vic-to-ri-a có ra một tuyên ngôn, tuyên ngôn này có 3 cái mốc. Mốc thứ nhất gọi là ăn uống cân bằng, thứ hai là vận động có o-xy, thứ ba gọi là trạng thái tâm lý.
1. ĂN UỐNG CÂN BẰN
Có lẻ có người từ lâu nghĩ rằng giữ gìn sức khoẻ thì có gì mà phải nghe, lại chẳng qua là ngủ sớm dậy sớm là khoẻ chứ gì. Tôi xin thưa với bạn, ở thời nhà Đường thì có thể nói vậy, chứ ngày nay nói vậy thì cực kỳ thiếu hiểu biết, có nhiều điều đã thay đổi. Nói ăn uống cân bằng, có hai chuyện là ăn và uống.
Trước hết nói về uống.
Khi ở Đại Học Bắc Kinh, tôi hỏi sinh viên: Đồ uống nào tốt nhất? Sinh viên đồng thanh trả lời: Côca cola, Côca cola, Mỹ không thừa nhận, quốc tế cũng không thừa nhận, nó chì có thể giải khát, chứ không có bất cứ tác dụng nào cho giữ gìn sức khoẻ. Sản phẩm bảo vệ sức khoẻ là gì, mọi người nên biết, nó phải có khả năng chữa bệnh. Cho đến bây giờ, tuyệt đại bộ phận người Trung Quốc chúng ta còn chưa biết thế nào là sản phẩm bảo vệ sức khoẻ. Ở các hội nghị quốc tế người ta đã định nghĩa ra 6 loại đồ uống bảo vệ cho sức khoẻ: trà xanh, rượu vang đỏ, sữa đậu nành, sữa chua (người ta không nói đến sữa bò nói chung, bạn nên chú ý), canh xương, canh nấm.
- Vì sao nói canh nấm ? Vì canh nấm có thể nâng cao công năng miễn dịch. Một văn phòng luôn có người bị cảm, có người không ốm bao giờ, vì sao vậy? Vì công năng miễn dịch khác nhau. Uống canh nấm có thể nâng cao sức miễn dịch, cho nên đó là sản phẩm giữ gìn sức khoẻ.
- Vì sao nhắc đến canh xương? Trong canh xương có chất uyển giao (một chất keo), uyển giao kéo dài tuổi thọ, cho nên hiện nay trên thế giới các nước đều có phố canh xương nhưng Trung Quốc chưa có. Chúng tôi đã điều tra, gần đây ở các thành phố Tô Châu, Nam Kinh có rồi, Bắc Kinh vẫn chưa có. Cho nên dừng coi thường canh xương, nó có thể kéo dài tuổi thọ vì có uyển giao.
- Vì sao nhắc sữa chua? Vì sữa chua cân bằng vi khuẩn. Nói cân bằng vi khuẩn được duy trì có nghĩa là vi khuẩn có ích thì sinh trưởng, vi khuẩn có hại thì tiêu diệt, cho nên ăn sữa chua thì có thể ít mắc bệnh. Ở Châu Âu, sữa chua rất phổ biến, nhiều cô gái chúng ta thích ăn sữa chua, nhưng họ không hiểu vì sao. Chúng tôi rất lấy làm lạ, lượng tiêu thụ sữa chua ở Trung Quốc rất thấp, còn lượng tiêu dùng sữa bò thì rất lớn. Bản thân sữa bò, chúng tôi không phủ nhận tác dụng của nó nhưng nó kém xa sữa chua.
- Vì sao uống trà xanh? Ngày nay rất nhiều người biết uống trà, nhưng thanh niên ít uống. Vì sao trà xanh có tác dụng bảo vệ sức khoẻ? Nguyên nhân trong trà xanh có chứa chất trà dà phân, mà trà dà phân có thể chống ung thư. Nhật Bản làm tổng điều tra rất tốt. Sau tổng điều tra, người trên 40 tuổi chẳng ai không có tế bào ung thư trong cơ thể. Vì sao có người mắc ung thư, có người không? Điều này có liên hệ đến việc uống trà xanh. Nếu anh uống mỗi ngày 4 chén trà xanh, thì tế bào ung thư không bị chia cắt, mặc dù có chia cắt cũng muộn lại 9 năm trở lên. Cho nên ở Nhật Bản, học sinh tiểu học hằng ngày đi học đều uống một chén trà xanh.
Thứ hai xin chú ý, trong trà xanh có chứa fluor, nó chẳng những có thể làm bền răng mà còn chữa được sâu răng, diệt vi khuẩn. Sau bữa ăn 3 phút, đốm khuẩn răng đã xuất hiện. Hiện nay rất nhiều người chúng ta không có răng tốt, chẳng những không súc miệng bằng nước trà, mà nước trắng cũng không. Vì thế có người 30 tuổi đã bắt đầu rụng răng, 50 tuổi thì rụng hết.
Thứ ba bản thân trà xanh chứa chất trà cam ninh, chất này nâng cao độ bền huyết quản, khiến huyết quản khó vỡ. Rất nhiều người bị mạch máu não bất ngờ đến Bắc Kinh chữa, trong bệnh viện cứ 4 người chết là có một người bị xuất huyết não. Xuất huyết não thì chưa có cách chữa, kỵ nhất là tức giận, hễ tức giận đập bàn trợn mắt mạch máu não đứt ngay. Các vị ạ! đến tuổi các vị nên uống sớm đi, đến lúc các vị có đập bàn trợn mắt vài cái thì cũng không lo.
- Trong các đồ uống, đứng thứ hai là vang đỏ: Vốn là trên vỏ quả nho đỏ có một thứ gọi là nghịch chuyển thuần (cồn chuyển ngược). Chất này có tác dụng chống suy lão, còn là thuốc chống ô-xy hoá, người hay uống vang đỏ thì ít mắc bệnh tim. Thứ hai nó có thể giúp ta phòng ngừa tim đột nhiên ngừng đập, chúng ta gọi là ngừng đột ngột.Trong trường hợp nào tim có thể ngừng đập? Một là vốn có bệnh tim, hai là tăng huyết áp, ba là mỡ máu cao. Mấy hôm trước tôi đến Trường Đại Học Sư Phạm hội chuẩn, một vị tiến sĩ mới 35 tuổi, buổi sáng còn chạy nhảy tưng tưng chiều đã chết rối. Vì sao? Mỡ máu quá cao.
Bây giờ tôi xin báo cho các vị kết quả tổng điều tra của thành phố Bắc Kinh, cán bộ tại chức cứ hai người thì có một người mỡ trong máu cao, tỷ lệ này là một phần hai. Mỡ máu cao nguy hiểm ở chỗ nào? Tim có thể đột nhiên ngừng đập. Có một chàng trai 20 tuổi, máu của cậu ta lấy ra có dạng bùn, hết sức nguy hiểm. Chúng tôi hỏi cậu ta, cậu ta bảo ăn tốt quá. Không phải cậu ta ăn tốt quá mà là ăn quá bất hợp lý. Chúng tôi có một ca bệnh: một người mua một chiếc bánh ga-tô lớn ở ngoài thành phố, vừa cứng, vừa dẻo, vừa nóng chạy về nhà, vào đến cửa liền bảo bà cụ ăn ngay kẻo nguội, bà cụ vừa ăn được mấy miếng thì tắc thở. Anh ta cõng bà cụ chạy ngay đến bệnh viện, đến nơi chúng tôi hỏi có bệnh gì, anh ta kể lại đầu đuôi. Thế chẳng phải chết vì thiếu hiểu biết đó sao? Không cứu được. Rượu vang đỏ còn có một tác dụng nữa là hạ huyết áp, hạ mỡ máu. Vang đỏ có mấy tác dụng lớn như thế nên ở nước ngoài người ta bán rất chạy. Tôi không quảng cáo tiếp thị cho rượu vang đỏ đâu, tôi chì truyền đạt tinh thần của hội nghị quốc tế. Nhiều người sẽ hỏi: chẳng phai cấm rượu sao? Tổ chức y tế thế giới nói rằng cai thuốc lá, hạn chế rượu, chứ có nói cấm rượu đâu, hơn nữa còn nói rơ hạn lượng rượu : rượu vang nho mỗi ngày không quá 50 - 100cc, rượu trắng mỗi ngày không quá 5 - 10cc, bia mỗi ngày không qúa 300cc. Nếu anh vượt qua khối lượng đó thì sai lầm, không quá lượng đó thì tốt. Có chị nữa sẽ hỏi: Tôi không biết uống rượu thì làm thế nào? Chị không biết uống rượu, há lại không biết ăn nho sao? Ăn nho há lại không biết ăn cả vỏ sao ? Nhưng nho trắng không có nghịch chuyển thuần, bạn ăn cũng vô ích.
Bây giờ ở Châu Âu đã có bánh ngọt bằng nho rồi. Tôi đã thử rồi, nho đỏ rửa sạch đi mà ăn, nuốt cả vỏ rất thích không sao cả. Cho nên người có tiền uống vang đỏ, người không có tiền ăn nho đỏ không bỏ vỏ đều giữ được sức khoẻ như nhau. Còn có người bắt bẻ tôi. Tôi không có tiền thì làm thế nào? Tôi xin nói với các bạn, ở hội nghị quốc tế người ta đã điều tra rồi, các khu vực trường thọ trên thế giới đều ở vùng ít tiền, thứ nhất là ở Ai-rơ-han thuộc Pakistan, thứ hai là A-zec-bai-zan của Liên Xô (cũ) và Kha-la-han ở Ê-quado đều là những vùng nghèo. Như vậy thì có lạ không? Kẻ có tiền ngày ngày nhậu nhẹt tiệc lớn nhỏ, gà vịt thịt cá thì đều bụng phệ, bằng đầu bằng đuôi. Tôi đã điều tra rồi, những người như vậy rất ít sống được quá 65 tuổi.
- Vấn đề tập thể dục buổi sáng: tôi thấy nhiều ông bà già 5 - 6 giờ sáng đã xách bảo kiếm đi ra ngoài. Đến tối không thấy mấy ông bà già nữa, họ đều ở nhà xem tivi. Đó là vì họ không biết rằng tập thể dục buổi sáng rất nguy hiểm. Sáng sớm dậy, quy luật của đồng hồ sinh học trong con người là nhiệt độ cơ thể cao, huyết áp tăng, hơn nữa nội tiết tố thượng thận cao gấp 4 lần buổi tối, nêu vận động mạnh sẽ rất dễ xay chuyện dễ làm tim ngừng đập. Tôi không phản đối đi bộ, tập thể dục, đi Thái cực quyền, luyện khí công buổi sáng sớm... điều đó không có gì sai cả. Nhưng nếu người già và người trung niên sáng sớm vận động mạnh, chạy đường dài, leo núi, thì chì có trăm điều hại, không một điều lợi.
Bây giờ đến vấn đề thứ hai là ăn
Mọi người nên biết kim tự tháp ở Châu Á là tốt nhất.
Kim tự tháp là gì ?
Loài cốc, loài đậu, loài rau. Ngủ cốc, đậu và rau là rất tốt. Ở hội nghi. San Francisco, nhiều bác sĩ nước ngoài đã nêu rằng: người Trung Quốc bây giờ không ăn ngũ cốc, đậu và rau nữa rồi, họ bắt đầu ăn bánh Hăm-bơ-gơ của chúng ta rồi. Tôi về nước, một lần đến Mac Donald, bị chen bật ra, anh nói có ghê không, đó là việc hiếm thấy ở nước ngoài. Thanh niên ta mừng sinh nhật, mở tiệc, đều là Mac Donald. Tôi rất phục Mac Donald, một năm người ta lấy của chúng ta hơn 2 tỷ, người ta thật biết làm ăn!
Theo tôi nắm được, sở dĩ người ta gọi nó là thực phẩm rác chính vì nó là một loại thực phẩm kích thích lệch, hậu quả là người bằng đầu bằng đuôi, cứ như một bó hành lư. Người ta không ăn vì ăn xong lại phải đi giảm béo. Chúng mình không biết, ngày nào cũng Macđonan, đặc biệt là thế hệ thứ hai, quả là đến mức không có Macđonan không sống nổi. Chúng ta nên biết đó là thức ăn kích thích lệch, không phù hợp với ẩm thực của chúng ta. Cốc ở các hội nghị quốc tế người ta xưa nay không nói đến gạo, bột mì trắng, cũng không nói đến Macđonan.
THỰC VẬT
Trong loài cốc trước tiên nói đến ngô, gọi đó là cây vàng. Lai lịch của ngô, hội nghị y học Mỹ đã có điều tra phát hiện rằng người Mỹ nguyên thủy, người Inđi-an không ai bị tăng huyết áp, không ai bị xơ vữa động mạch. Từ đó về sau, nước Mỹ đã thay đổi, Châu Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Hồng Kông, Quảng Đông của Trung Quốc, sáng đều ăn bánh ngô. Bây giờ nhiều người ăn noãn lân chi để làm gì? Chính là hy vọng không bị xơ vữa động mạch. Nhưng họ không biết rằng trong ngô già có rất nhiều, không phải tốn tiền nhiều. Tôi đã điều tra ở Mỹ, một bắp ngô 2.5 đô-la, còn ở Trung Quốc chì có một đồng bạc chênh nhau 16 lần. Nhưng rất nhiều người chúng ta không biết, không ăn. Sau lần điều tra này, tôi lập tức đổi ngay ở Mỹ tôi đã kiên trì 6 năm ăn cháo ngô hàng ngày.
Năm nay, tôi đã ngoài 70 tuổi, thể lực sung mãn, tinh thần dồi dào, giọng nói vang vang đầy khí thế, hơn nữa mặt không có nếp nhăn. Nguyên nhân nào vậy? Do húp cháo ngô đấy, tin hay không tuỳ bạn. Bạn cứ việc uống sữa bò, tôi cứ việc húp cháo ngô, xem ai sống lâu hơn ai.
Loại cốc thứ hai là kiều mạch: tại sao nhắc đến kiều mạch? Người ta hiện nay thường có 3 cao: huyết áp cao, mỡ máu cao, đường máu cao. Kiều mạch là 3 hạ: hạ huyết áp, hạ mỡ máu, hạ đường máu. Tôi hỏi sinh viên Bắc Đại (Đại học Bắc Kinh) kiều mạch là gì? Đáp rằng không biết, chì biết hăm-bơ-gơ. Trong kiều mạch có chứa 18% xen-lu-lô, người ta ăn kiều mạch không bị viêm dạ dày, đường ruột, ung thư trực tràng, ung thư kết tràng đều không mắc. Trong số những người ngồi văn phòng mắc bệnh có đến 20% là ung thư trực tràng, ung thư kết tràng.
Loại cốc thứ ba là các loại khoai: khoai lang trắng, khoai lang đỏ, củ từ khoai tây. Những thứ này trong hội nghị quốc tế có nhắc đến. Vì sao? Vì chúng có 3 hấp thụ: hấp thụ nước, hấp thụ mỡ và đường, hấp thụ độc tố. Hấp thụ nước làm trơn đường ruột, không bị ung thư trực tràng, kết tràng. Hấp thụ mỡ và đường, không mắc bệnh tiểu đường. Hấp thụ độc tố: không mắc chứng viên dạ dày, đường ruột. Tôi cũng da điều tra ở Mỹ, người Mỹ ăn khoai là chế biến thành các loại bánh, ăn cũng không ít. Mong mọi người ăn nhiều khoai vào, trong lương thực chính nên có các loại khoai.
Trong cốc còn có yến mạch: nước ngoài đã biết từ lâu. Trung Quốc rất nhiều người chưa biết. Nếu bị tăng huyết áp, nhất định phải ăn yến mạch, yến mạch lát. Nó có thể hạ huyết áp, hạ mỡ máu.
Loại cốc cuối cùng là kê: Sau khi về nước tôi hỏi: Vì sao chúng ta không ăn kê nữa? Nhiều người bảo tôi: Cái thứ đó chì có đàn bà đẻ mới ăn ! Thật ra, bản thảo cương mục đã nói rất rơ: Kê có thể trừ thấp, kiện tỳ, trấn tĩnh, an miên (ngủ yên) ; ích lợi lớn như thế mà anh không ăn? Bây giờ rất nhiều người ngồi văn phong, đêm mất ngủ, mắc các chừng uất ức, chứng chức năng thần kinh, có người uống đến 8 viên thuốc an thần nhưng vẫn không ngủ được. Tôi khuyên mọi người đừng nên uống thuốc nữa.
Có hai giáo sư y học nổi tiếng sau khi uống an thần, đầu óc tối tăm choáng váng rồi ngã. Tôi đã quan sát kỹ, người ta ngủ được là nhờ ăn cháo kê. Cho nên bây giờ tôi đã thay đổi, sáng một bát cháo ngô, tinh thần phấn chấn, tối một bát cháo kê, ngủ khì khì. Chữa bệnh bằng ăn tốt hơn chữa bệnh bằng thuốc.
Vì sao chúng ta không giải quyết vấn đề bằng cái ăn, mà cứ nhất định phải dùng thuốc. Mười thứ thuốc thì chín thứ là độc, chưa từng nghe nói dùng thuốc để giữ gìn sức khoẻ. Tôi cũng phải nói rơ: tôi không hề phản đối dùng thuốc. Tôi phản đối dùng thuốc bừa bãi, tôi chủ trương dùng thuốc trong thời gian ngắn, uống thuốc bình yên, nhanh chóng ngừng thuốc.
Dưới đây xin nói về đậu: Kết quả điều tra của chúng tôi là tất cả dân Trung Quốc thiếu protein ưu chất. Cho nên chúng ta chơi bóng nhỏ thì luôn luôn thắng, nhưng chơi bóng lớn thì không thắng. Vì sao? Trên sân bóng đá một cú đá, một cú va chạm là ngã lộn nhào. Hiện nay, tiền thuốc của chúng ta cao gấp 10 lần của Mỹ nhưng thực tế không bằng người ta.
Người Trung Quốc thiếu protein ưu chất thì làm thế nào ? Hiện nay Bộ y tế đã đề ra kế hoạch hành động đậu tương, nội dung là một nắm rau, một nắm đậu, một quả trứng gà cộng thêm một ít thịt. Protein của một lạng đậu nành bằng hai lạng thịt nạc, bằng ba lạng trứng gà, bằng bốn lạng gạo, vậy nên ăn cái gì hơn?
Đậu nành là hoa của dinh dưỡng là vua của các loại đậu. Trong đậu nành có ít nhất 5 loại chất chống ung thư, đặc biệt là di hoàng đồng chất có thể phìẳng và chữa ung thư tuyến vú, ung thư trực tràng và ung thư kết tràng. Cho nên đối với người da vàng chúng ta thích hợp nhất là sữa đậu nành. Bắc Kinh và Thiên Tân chúng ta gần nhau như thế, nhưng ở Bắc Kinh người ung thư tuyến vú đặc biệt nhiều, còn Thiên Tân rất ít. Anh có biết vì sao không?
Thiên Tân ăn sáng bằng sữa đậu nành và óc đậu. Người Bắc Kinh huyết áp cao, mỡ máu cao nhiều như vậy do bữa ăn sáng rất đa dạng nhưng rất không khoa học. Sữa bò tốt hay sữa đậu nành tốt ? Ở hội nghị quốc tế của liên hiệp quốc người ta nói, trong sữa bò có nhiều nhũ đường, mà hai phần ba số người trên thế giới không hấp thu được nhũ đường, người da vàng ở Châu Á có 70% số người không hấp thu được nhũ đường. Sữa đậu nành có ưu điểm gì ? Trong sữa đậu nành có chứa quả đường, mà quả đường hấp thu 100%.
Bây giờ nói đến rau:
Loại rau nói đến đầu tiên là cà-rốt: Vì sao nói đến cà-rốt?
Sách bản thảo cương mục của Trung Quốc viết đó là loại rau dưỡng mắt. Tối nhìn không thấy, đặc biệt là chứng quáng gà, ăn là khỏi. Nó bảo vệ niêm mạc, ăn cà-rốt lâu ngày thì ít bị cảm mạo. Người Mỹ cho cà - rốt là thứ rau làm đẹp người, dưỡng tóc, dưỡng da, dưỡng niêm mạc. Người thường xuyên ăn cà - rốt quả là đẹp từ trong ra ngoài. Khái niệm đẹp người này phải là trong ngoài hài hoà. Nhiều cô gái của chúng ta bị mắc lừa, các cô ấy son phấn vào, còn dễ coi, đến khi bỏ son phấn ra, còn khó coi hơn ban đầu. Người Mỹ rất chú ý đen điều này, họ ăn cà - rốt đều.
Lúc ở U-rum-si, người ta mời tôi ăn bánh chẻo (thứ bánh nhân thịt bọc bột mì) nhân cà-rốt, họ gọi là bánh chẻo Nga, tôi ăn thấy rất ngon. Thứ nhất nó dưỡng niêm mạc, ít bị cảm mạo. Thứ hai nó đẹp khỏe mạnh. Thứ ba nó có chút tác dụng chống ung thư, hơn nữa rất tốt cho mắt. Châu Âu đã có bánh ngọt cà-rốt. Ở nhiệt độ cao chất bổ trong cà-rốt không bị giảm sút.
Loại rau thứ hai phải nói đến là bí đỏ: Nó kích thích tế bào tuỵ sản sinh ra Insulin. Cho nên người thường xuyên ăn bí bỏ rất ít mắc bệnh tiểu đường.
Trong các loại rau còn nhắc đến khổ qua (mướp đắng). Tuy nó đắng nhưng nó tiết ra insulin, người thường ăn mướp đắng cũng không bị tiểu đường. Bí đỏ, khổ qua người ở lứa tuổi chúng ta nhất định phải ăn luôn.
Ngoài ra người ta còn nhắc đến cà chua. Ở Mỹ, hầu như gia đình nào cũng trồng cà chua, ăn cà chua, mục đích là khỏi mắc ung thư. Đó là đều mới được biết đến 5-6 năm nay. Ăn cà chua không mắc bệnh ung thư, bạn đã biết chưa? Nhưng không phải ăn cà chua một cách tuỳ tiện. Trong cà chua có một chất gọi là chất cà chua, nó kết hợp chặt với protein làm một, xung quanh có xen-lu-lô bao bọc rất khó ra. Cho nên phải làm nóng lên, nóng đến mức nhất định nó mới ra được. Tôi mách các bạn, cà chua xào trứng gà là đáng giá nhất và canh cà chua hoặc canh trứng gà cà chua cũng rất tốt. Cà chua ăn sống không chống được ung thư, xin mọi người nhớ cho.
Tôi vừa nói tỏi ăn nhu thế nào? Có người nói ngay cái món đó phải ăn nóng. Sao cái gì bạn cũng muốn ăn nóng? Tôi xin thưa với các bạn: tôi đun nóng lên thì bằng dê-rô! Người Sơn Đông, người Đông Bắc rất thích ăn, cứ bọc từng nhánh mà ăn, còn nói tỏi không bị ung thư, nhưng chẳng mấy hôm anh ta bị ung thư trước.
Nguyên nhân là gì? Xin thưa quý vị, trước hết phải thái nhánh tỏi thành từng lát, để từng lát trong không khí độ 15 phút, sau khi nó kết hợp với dưỡng khí mới sản sinh ra chất tỏi (đại toán tố). Bản thân tỏi không chống được ung thư, đại toán tổ mới chống được ung thư, hơn nữa là vua chống ung thu;. Hôm nọ tôi thấy có người ăn tỏi, anh ta lấy một bát mì rồi nhanh chống bóc tỏi ra, ăn từng nhánh tỏi, không đầy năm giây đồng hồ đã ăn xong. Thậm chí không đến 5 giây ! Ăn như vậy không có ít gì hết. nếu sợ tỏi có mùi thì ăn một quả sơn tra, nhai nắm lạc rang, hoặc ăn chút lá chè là hết mùi ngay, ở nước ngoài tuần nào người ta cũng ăn, sao chúng ta lại không ăn !
Bây giờ nói về mộc nhĩ đen.
Mọc nhĩ đen có tác dụng gì ?
Bây giờ cứ đến tết, người chết vì nhồi máu cơ tim ngày càng nhiều, càng ngày càng có nhiều người chết trẻ, thậm chí ở cả tuổi 30 ! Vì sao đến tết chết nhiều ? Có hai nguyên nhân, một là máu đặc cao ngưng thể chất. Người cao ngưng thể chất cộng thêm thức ăn cao ngưng, cho nên vào dịp tết người chết vì nhồi máu cơ tim đặc biệt nhiều, không kể tuổi nào.
Chết nhồi máu cơ tim tuy không có cách gì chữa được, nhưng hoàn toàn có thể dự phòng. Có bác sĩ khuyên bạn uống Aspirin, vì sao ? Có thể khiến máu đông đặc lại!, không bị nhồi máu cơ tim. Nhưng hậu quả là gì ? Hậu quả của việc uống nhiều aspirin là đáy mắt xuất huyết. Bây giờ rất nhiều người xuất huyết đáy mắt. Tôi khuyên mọi người đừng uống aspirin nữa. Hiện nay ở Châu Âu không uống aspirin nữa rồi. Vậy thì làm thế nào ? Ăn mộc nhĩ đen. Ăn mộc nhĩ đen có hai tác dụng, trong đó có một tác dụng là khiến máu không bị dông đặc lại. Tác dụng này của mộc nhĩ đen là do một chuyên gia bệnh tim của Mỹ phát hiện, ông đã đoạt giải Nobel. Sau khi ông ta phát hiện, tất cả người Châu Âu người có tiền và có địa vị đều ăn mộc nhĩ đen, chứ không uống aspirin nữa.
Người thế nào là người cao ngưng thể chất ? Xin trả lời là người thấp, to béo, đặc biệt là phụ nữ ở thời kỳ chuyển đổi tuổi. Hơn nữa người thuộc nhóm máu AB càng dễ bị máu đặc cao ngưng và cổ càng ngắn thì cáng dễ bệnh. Thứ nhất là tết đừng ăn đồ biển nhiều, thứ hai nên uống một chút trà ngon, hoạt huyết tiêu ứ, thứ ba nhất thiết chớ tức giận, hễ tức giận là máu đặc lại. Uống rượu trắng cũng dễ đặc máu, muốn uống thì uống vang đỏ, không quá 100ml.
Nếu cho anh ăn lạc nhất thiết đừng ăn.
Mà có ăn thì bóc vỏ đi. Anh xem lạc Trung Quốc, lạc ngũ hương, lạc rang, lạc chiên đều nguyên cả vỏ. Anh sang Châu Âu mà xem, tất cả các thứ lạc đều bóc vỏ hết, người ta biết không nên ăn vỏ. Có người hỏi: Cái vỏ lụa ấy chẳng phải có dinh dưỡng sao ? Ai nói vậy, tôi xin nói với các vị, vỏ lạc không có dinh dưỡng nó chì có thể trị huyết ngưng phiến, nâng cao huyết tiêu bản ; dùng để cầm máu. Người trung niên và người già chúng ta không nên ăn.
Và xem tivi phải chú ý, tivi hay thì xem một lát, tivi dở thì đừng xem. Vì sao ? Vì ngồi lâu, độ ngưng huyết sẽ lên cao. Tôi lo nhất là gì ? Là người vốn lùn, to, béo, không có cổ, lại đang thời kỳ chuyển đổi tuổi, lại nhóm máu AB, ăn đồ biển bửa bãi, rồi lại tức giận, lại uống rượu trắng, xong rồi ăn lạc không bóc vỏ, người như vậy mà không chết vì nhồi máu cơ tim, thì tôi xin giải nghệ bác sĩ.
Dưới đây nói một chút về phấn hoa.
Tổng thống Ri-gân từng một lần bị bắn trọng thương, đã một lần bị u ác tính, ông ta đã cao tuổi như vậy mà bây giờ vẫn sống, chì có đều mắc chứng lú lẫn của người già. Chính là phấn hoa có tác dụng rất lớn cho cơ thể ông. Bây giờ ở Châu Âu, Châu Mỹ đều thịnh hành phấn hoa. Sau khi về nước, tôi tra lại lịch sử thì ra chúng ta ( Trung Quốc) đã có từ lâu. Vơ Tắc Thiên đã ăn phấn hoa, Từ Hi Thái Hậu cũng ăn phấn hoa.
Mọi người đều biết, phấn hoa là tinh tú của thực vật, nói thay nghén sự sống, dinh dưỡng rất phong phú, là cái tốt nhất trong thực vật. Cổ đại đã có rồi nhưng chúng ta quên mất. Các vị đã từng mua phấn hoa ở ngoài phố, phấn hoa bán ngoài phố có vỏ cứng, chưa phá vách. Phá vách cần có xử lư khoa học kỹ thuật cao. Thứ hai phấn hoa mọc dại, dễ ô nhiễm, phải sát trùng. Thứ ba, nó là protein phải thoát mẫn. Phấn hoa phải có 3 điều này mới dùng được: xử lý, tiêu độc, thoát mẫn.
Phấn hoa ở Nhật Bản: được dùng nhiều lắm, ở tuổi nào cũng dùng nó để làm đẹp. Người mẫu ở Pháp không ai không dùng. Có một lần, suốt một tháng liền, đêm nào tôi cũng dậy 3 lần : Thấy nguy quá, tôi ăn phấn hoa, một tháng sau trở lại bình thường. Tài liệu ghi chép cho biết tỷ lệ chữa bệnh của phấn hoa là 97%. Nếu dùng phấn hoa chữa không khỏi thì thuốc cũng không giải quyết được, cuối cùng công năng thận suy kiệt.
Lại còn chứng rối loạn đường ruột phụ nữ mắc rất nhiều, bí đái có tính chất tập quán. Rất nhiều người uống thuốc đi ngoài mà mắc ung thư trực tràng, ung thư kết tràng. Phấn hoa có một tên gọi là cảnh sát đường ruột, sau khi ăn phấn hoa, cảnh sát có thể duy trì trật tự đường ruột. Thu ba, nó làm đẹp khoẻ mạnh, duy trì thể hình. Ba tác dụng lớn của phấn hoa không thể coi thường.
ĐỘNG VẬT
Người ta nói ăn động vật bốn chân không bằng ăn con hai chân, mà ăn con hai chân không bằng ăn con nhiều chân. Nếu trong bữa ăn có cả thịt lợn và thịt dê, thì ăn thịt dê, có thịt dê và thịt gà thì ăn thịt gà ; có gà và có cá thì ăn cá ; có cá và tôm thì ăn tôm. Đó không phải là làm khách. Động vật càng nhỏ thì protein càng tốt. Dinh dưỡng học dạy chúng thô sơ thì chì xem con vật to hay nhỏ ; đem phân từ thức ra thì người ta không hiểu. Tôi còn chưa nói cho chuột, ở hội nghị quốc tế người ta nói protein của bọ chét là tốt nhất. Con bọ chét, đừng thấy nó nhỏ, nó có thể nhảy cao một mét, anh có tin không ? Nếu phóng đại nó lên bằng cơ thể con người, thì nó có thể nhảy lên mặt trăng ấy chứ! Cho nên đã có mấy bác sĩ Mỹ đang nghiên cứu làm thế nào để có thể ăn được bọ chét.
Bây giờ WHO, Liên hiệp quốc đề nghị mọi người ăn nhiều gà và cá. Tại sao không khuyến nghị ăn tôm ? Không phải là không khuyến nghị mà là tôm quá đắt khó phổ cập. Nếu có tôm, thì ăn tôm là tốt. Giờ đây tôi nắm một nguyên tắc thế này: nếu có tôm thì tôi ăn vài con tôm. Vài con đó đủ nhiều protein hơn anh ăn đầy một bụng thịt bò. Cá thì dễ phổ cập hơn. Protein của cá một giờ là hấp thụ được, tỷ lệ hấp thụ là 100%, còn protein của thịt bò là 3 tiếng đồng hố mới hấp thụ được. Cá đặc biệt thích hợp cho người già, đặc biệt là người cơ thể suy nhược. Tất nhiên là tôm tốt hơn cá. Quốc tế đã điều tra vùng tuổi thọ nổi tiếng nhất là Nhật Bản, vùng tuổi thọ của Nhật Bản là ven biển, mà ven biển tuổi thọ cao nhất là vùng địa phương ăn cá.
Đặc biệt là ăn cá bé, tôm bé, đặc biệt phải ăn cả con cá (ăn cả đầu lẫn đuôi) vì có chất hoạt tính, mà chất hoạt tính thì ở đầu và bụng cá bé, tôm bé. Đấy là khoa học, chứ không phải mua cá chọn con to là tốt.
Còn một nguyên tắc nữa là phải nắm vững lượng, chứ không phải ăn càng nhiều càng tốt. Trên quốc tế có quy định: ăn no 7 phần 10, suốt đời không đau dạ dày, ăn 8/10 là tối đa, nếu ăn no 10/10 thì 2/10 kia vô ích. Cho nên quốc tế khuyến nghị tỷ lệ vàng là 0.618 : lương thực phụ 6, lương thực chính 4 ; lương thực khô 6, lương thực tinh 4 ; thực vật 6, động vật 4, cân bằng vật chất có một quy luật tôi xin giới thiệu qua. Trẻ sinh ra cho tới 5 tháng ăn sữa mẹ là tốt nhất, ngoài 5 tháng sữa mẹ không đủ, cần thêm 42 loại thức ăn trở lên. Người ta tới tuổi già lại càng khó. May thay có một bác sĩ người Pháp tên là Climent, khi du lịch sang Châu Phi thấy người ở Hồ Zầm lớn Châu Phi khỏe mạnh sống lâu hơn chúng ta. Họ ăn cái gì ? Ăn rong biển, phơi khô làm bánh bao ăn, sau đó uống canh rong biển. Bác sĩ ấy đem về Paris thí nghiệm, thì ra là rong biển, rong xoắn ốc. Rong xoắn ốc này phát hiện năm 1962, phát hiện này làm xôn xao thế giới. Vì sao ? Một gram nó bằng 1000 gram tổng hợp tất cả các loại rau, dinh dưỡng đặc biệt phong phú, rất toàn diện, phân bổ dinh dưỡng rất cân bằng hơn nữa là thức ăn kiềm tính.
Ở Nhật Bản, mỗi năm họ tiêu thụ 500 tấn rong xoắn ốc, họ đi du lịch Trung Quốc người nào cũng mang theo. Chúng tôi hỏi họ, vì sao mang rong xoắn ? Họ bảo 8 gram rong xoắn là có thể duy trì sự sống 40 ngày. Ngoài ra nó rất quan trọng đối với một số bệnh như tim mạch, tăng huyết áp, tăng mỡ máu, tiểu đường... Ưu điểm lớn nhất của rong xoắn là khiến cho bệnh nhân bị bệnh tiểu đường không bị biến chứng, có thể ăn uống như người binh thường. Bệnh nhân tiểu đường thiếu năng lượng, lại không được ăn đường, rong xoắn là đường khô, hấp thu đường khô vào là có năng lượng. Bệnh nhân tiểu đường, đường máu không ổn định, sau khi dùng rong xoắn có thể dần dần ngừng thuốc, sau đó dần dần có thể ngừng rong xoắn, cuối cùng khống chế bằng rong mềm. Đối với bệnh viêm dạ dày, loét dạ dày, rong xoắn có chất diệp lục có tác dụng khôi phục đối với niêm mạc dạ dày. Rong xoắn còn có tác dụng phòng bức xạ. Khi trạm điện hạt nhân của Liên Xô bị nổ, chuyên gia Nhật Bản đi cứu người mang theo rong xoắn, tác dụng chống bức xạ của nó rất mạnh. Tôi tổng kết một chút, bức xạ ảnh hưởng rất lớn đến chúng ta. Nhưng có mấy cách có thể dự phòng: thứ nhất uống trà xanh ; thứ hai là ăn rau xanh, cà-rốt ; thứ ba là ăn rong xoắn ; thứ tư là ăn tảo phục khang. Tảo phục khang là tốt nhất. Tuỳ theo điều kiện kinh tế của mình mà chọn lấy một cách, thực sự không được ăn rau xanh, cà-rốt. Bức xạ thì ai cũng có thể tiếp xúc. Quốc tế đã từng cảnh cáo : nhất thiết chớ để đồ điện trong phòng ngủ. Nhất là lò vi song, đối với chúng ta nguy hại lớn nhất, trong vòng 7 mét nó có thể bức xạ đến chúng ta. Và các đồ điện, không nên mở cùng một lúc. Vừa có tivi vừa có tủ lạnh, lại vừa có lò vi sóng, bạn làm thức ăn ngay bên cạnh, thì bạn mắc ung thư là không oan uổng gì.
2. VẬN ĐỘNG Ô – XY
Có một kinh nghiệm thành nguyên tắc, nhất thiết đừng luyện tập sáng sớm. Xin khuyến nghị các vị tập luyện vào chiều tối. Các nhà khoa học đã quy định, ăn xong 45 phút sau hãy vận động. Mà người già vận động đi bách bộ là được, chì cần đi 20 phút. Muốn giảm béo không dùng phương pháp này, nữa giờ đến một giờ trước bữa ăn, ăn 2-4 hạt rong xoắn, sau đó sẽ giảm được cảm giác muốn ăn mà lại không thiếu dinh dưỡng. Người Châu Âu giảm béo toàn dùng rong xoắn, ở trong nước (Trung Quốc) ăn ít, đi ngoài nhiều là không đúng cách.
Thứ hai là thời gian ngủ dậy, quốc tế quy định là 6 giờ sáng để bạn kham khảo. Thời gian mở cửa sổ, quốc tế quy định là 9-11 giờ, buổi chiều là 2-4 giờ. Vì sao ? Vì sau 9 giờ, không khí ô nhiễm lắng xuống, chất ô nhiễm đã giảm bớt, không có hiện tượng phản lực. Các vị chú y cho, sáng dậy mở cửa sổ, đừng có thở nhiều ở đó, vì chất gây ung thư, chất phản lực đều chạy hết vào trong phổi bạn, dễ bị ung thư phổi. Quốc tế đã cảnh cáo, 6-9 giờ sáng là lúc dễ gây ung thư nguy hiểm nhất.
Không thể nói chung chung rằng ngủ sớm dậy sớm là khoẻ. Cả đêm bạn đã hít đầy bụng khí cacbonic ở trong nhà, trong đường hô hấp đã có hơn 100 loại độc tố rồi, lại chạy vào rừng cây, buổi sáng trong rừng cây lại toàn là cacbonic. Tập luyện buổi sáng, huyết áp cơ sở cao, thân nhiệt cơ sở cao, thượng thận tuyến tố cao gấp 4 lần buổi chiều tối, người có bệnh tim bẩm sinh rất dễ sinh chuyện. Trong rừng cây, phải đợi khi mặc trời lên, ánh mặt trời có phản ứng với chất diệp lục mới có thể sản sinh ô-xy. Lúc trong rừng toàn khí cacbonic, rất dễ trúng độc, rất dễ mắc ung thư.
Trong sách Hoàng Đế nội cung có nói: "không có mặt trời thì không tập luyện". Tôi đề nghị các vị, mùa hè ngủ sớm dậy sớm, mùa đông không nên đi tập buổi sáng sớm mà đổi sang tập buổi tối. Cũng không phải là người như thế nào cũng đều ngủ sớm, dậy sớm khoẻ người cả, người cao tuổi đừng có bật dậy mạnh. Có người bật một cái là dậy, thoắt một cái là nhồi máu cơ tim chết luôn.
Quốc tế người ta nói, người ngoài 70 tuổi nên dậy thông thả, duỗi tay duỗi chân cử động vài cái, rồi xoa bóp tim một lúc, ngồi vài phút rồi hẵng đứng lên. Như vậy sẽ không làm sao cả. Cho nên tuổi tác khác nhau, thời tiết mùa vụ khác nhau thì phải đối xử khác nhau.
Dưới đây, xin nói về ngủ trưa. Quốc tế quy định rồi, ngủ trưa hay không ngủ trưa khỏi phải tranh luận. Trước kia, Nhật Bản không chủ trương nếu đêm hôm trước không ngủ tốt thì nên ngủ trưa. Thời gian ngủ trưa nên là nữa giờ sau bữa ăn trưa, và tốt nhất nên ngủ một tiếng đồng hồ, ngủ lâu quá không có lợi chó sức khoẻ. Không nên đắp chăn dày.
Buổi tối đi ngủ vào lúc nào ? Xưa nay chúng tôi không đề xướng ngủ sớm dậy sớm. Khái niệm ngủ sớm dậy sớm cần làm rõ. Nếu 7h tối đi ngủ, 12h đêm dậy lục đục vớ vẩn thì không ích gì. Chúng tôi chủ trương 10-10h30 đi ngủ, vì ở hội nghị quốc tế người ta đã quy định, một giờ đến một giờ rưỡi sau đi vào giấc ngủ sâu là khoa học nhất, như thế thì 12h đêm đến 3h sáng, 3 tiếng ấy sét đánh cũng không nhúc nhích, không có làm gì hết, 3 tiếng đồng hồ ấy là giấc ngủ sâu. Nếu 3 tiếng ấy ngủ tốt thì hôm sau dậy tinh thần sẽ rất thoải mái. Nếu anh ngủ sau 4h, thì đó là giấc ngủ nông. Biết cách ngủ và không biết cách ngủ là rất khác nhau. Chúng tôi chủ trương từ 12h đến 3h sáng ngủ say như chết và trước khi đi ngủ tắm nước nóng 40-50oC, như vậy chất lượng giấc ngủ rất cao. Các bạn đánh bài tôi không phản đối, nhưng phản đối đánh bài từ 12h đến 3h sáng. Ở Thẩm Quyến có 4 thanh niên đánh bài mà chết, báo đã đưa tin.
3. TRẠNG THÁI TÂM LÝ
Nếu trạng thái tâm lý không tốt thì anh ăn uống tập luyện cũng vô ích. Tức giận thì dễ bị khối u, cả thế giới đều biết. Trường đại học Stan-pho đã làm một cuộc thí nghiệm nổi tiếng, lấy ống mũi đặt lên mũi cho anh thở, rồi sau đó lấy ống mũi đặt lên bãi tuyết 10 phút. Nếu băng tuyết không đổi màu thì chứng tỏ anh bình tĩnh, tự nhiên, nếu băng tuyết trắng lên chứng tỏ anh có điều hổ thẹn day dứt, nếu băng tuyết tím đi chứng tỏ anh tức giận. Rút lấy 1-2cc chỗ băng tuyết tím đó tiêm cho chuột con thì 1-2 phút sau chuột con sẽ chết.
Tôi khuyên các bạn, ai muốn trêu tức bạn thì bạn đừng có tức. Nếu bạn không nhịn được, bạn hãy xem đồng hồ, đừng để quá 5 phút, quá 5 phút là hổng chuyện, máu sẽ tím đi. Thí nghiệm này đã được giải Nobel. Tâm ly học có thể đề xuất 5 phương pháp tránh tức giận: một là tránh đi ; hai là chuyển đi, người ta chửi thì anh cứ đánh cờ, câu cá, không nghe thấy ; ba là thả ra, nhưng phải chú y, người ta chửi anh, anh lai đi chửi người khác thì không chẳn gọi là thả ra, mà phải đi tìm bạn tri âm để nói chuyện, thả ra hết (giải toa?) nếu không, cứ để bụng, thì sẽ sinh bệnh ; bốn là thăng hoa, tức là người ta càng nói, anh càng ra sức làm ; năm là khống chế, đây là phương pháp chủ yếu nhất, tức là mày chửi thế nào, ông cũng không sợ. Điều này rất quan trọng " Nhịn một lúc gió yên sống lặng, lùi một bước biển rộng trời cao". Nhẫn nại không phải là mục đích mà là sách lược. Nhưng người thường không làm nổi, mới nói một câu đã lồng lộn lên. tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu (Không nhịn được điều nhỏ thì sẽ rối loạn cả mưu chí lớn) Châu Âu có một kinh điển bác học : cái lý khó giảng thì nên dừng, con người khó đối xử thì nên xử hậu, việc khó xử thì nên làm buông thả, công việc khó thành thì nên khôn khéo. Câu đầu tiên trong 4 câu ấy có nghĩa là: Lý lẽ khó thì khoan hãy nói. Triết lý rất sâu sắc, rất có ích. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, Gia Cát Lượng 3 lần chọc tức Chu Du, rốt cuộc đã khiến Chu Du tức giận mà chết. Tại Chu Du hay tại Gia Cát Lượng ? Kết luận là tại Chu Du, khí lượng ông ta hẹp hòi quá. Tức giận nguy hại rất lớn cho người ta.
Hiện nay có một lý thuyết mới, tất cả các động vật đều không có công năng cười, duy loài người có công năng đó. Nhưng loài người chưa biết sử dụng công năng đó. Xưa có câu: một nụ cười trẻ ra 10 tuổi. Không phải chì tuổi tác mà chì tâm thái, miệng hay cười, người hay khoẻ. Tác dụng của cười rất lớn, cười tránh được rất nhiều bệnh. Thứ nhất không bị thiên đầu thống, thứ hai không bị đau lưng, vì khi cười vi tuần hoàn phát triển. Thông tắc bất thống (thông thì không đau), bất thông tắc thống (không thông thì đau). Lại nữa, thường xuyên cười đặc biệt tốt cho đường hô hấp và đường tiêu hoá. Có thể làm thí nghiệm, anh cứ sờ vào bụng và bắt đầu cười, mỗi ngày cười to 3 lần bụng lọc sọc 3 lần thì không táo bón, không bị ung thư dạ dày, đường ruột. Anh tập tay, tập chân nhưng tập dạ dày đường ruột vào lúc nào ? Không có cơ hội, chì có cười mới tập được dạ dày đường ruột. Cười đã trở thành tiêu chuẩn của sức khoẻ. Tôi đã điều tra nhiều lần, giải Nobel thứ hai về cười đã được trao. Cười là thứ thuốc tê thiên nhiên. Nếu bạn bị viêm khớp, xin đừng lo cứ nhìn vào khớp mà cười ha há, một chốc là không đau nữa. Cười có nhiều ích lợi như thế, sao chúng ta lại không cười nhì.
Mới đây thành phố Bắc Kinh đã có tổng điều tra rồi, tuổi thọ của người ta bạn có biết là cụ ông thọ hơn hay cụ bà thọ hơn không ? Tôi xin mách các vị, cụ bà thọ hơn cụ ông, bình quân thọ hơn cụ ông 6 năm rưỡi. Tình cờ gặp một cụ ông, tại sao cụ lại tập luyện một mình ? Ông cụ bảo lão không ghép được đôi, các bà lão đều tập với nhau, luyện tập từng đôi ở đầu phố. Ưu điểm lớn nhất của nhiều cụ bà là tai khi còn trẻ đã rất thích cười, các ông không cười. Đã kém người ta sáu tuổi rưỡi rồi đó, đến bao giờ mấy ông mới cười. Cho nên từ giờ, mỗi người hãy mau cười đi. Các vị hôm nay đến đây, các vị cười mấy tiếng là sống thêm được mấy năm.
Có người nói thế nào cũng chẳng cười. Cấp bậc càng cao càng không cười, tôi biết làm thế nào được ? Chẳng những đã không cười, lại còn có một logic : Nam nhi hữu lệ bất khinh đàn (Đàn ông có nước mắt nhưng không dễ gì chảy). Nước mắt người thường thì mặn, nước mắt bệnh nhân tiể̉u đường thì ngọt, nước mắt đau buồn thì đắng, trong đó có peptide (pép-tít) có hóc môn. Nếu lâu ngày không chảy đi thì sẽ bị khối u, bị ung thư đấy. Dù có khỏi khối u thì cũng bị loét hoặc viêm kết tràng mãn tính. Cho nên, nếu các vị đau buồn thì phải chảy nước mắt ra, giữ lại không ích gì đâu.
Ở hội nghị quốc tế, người ta đã cảnh cáo chúng ta. Chúng ta hãy uống trà xanh, ăn đậu nành, ngủ cho tốt, năng vận động và dừng quên luôn luôn cười vui.
Mong rằng mỗi người đều chú ý đến cân bằng ẩm thực, vận động có ô-xy và chú ý trạng thái tâm lý của mình, lúc đáng khóc thì nên khóc, lúc đáng cười thì cười.
Tôi tin rằng chúng ta nhất định vượt qua được tuổi 73, qua tuổi 81, đến 90, 100 tuổi vẫn còn khoẻ mạnh.