MTNCD logo chinh 2
donate

Những Khó Khăn

Cách Giải Quyết

Ban Điều Hành

Những Thành Quả

Cách Giúp Đỡ

Tình Người

Trang Tiếng Anh

eyes of compassion logo for thanking letter final

RELIEF ORGANIZATION

Mổ Mắt

Hệ Thống Nước Sạch

Giếng Nước

Bể Nước Mưa

Lu Nước Mưa

Xây Dựng Cơ Sở

Trạm Xá

Trường Học

Nhà Tình Thương

Nghĩa Địa Thiếu Nhi

Nhà Điều Dưỡng

Cầu Cống

Thiên Tai

Bảo Ketsana 2009

Trường Huấn Nghệ

Bệnh Hiểm Nghèo

Mổ Tim

Cháy Bỏng

Khẩn Cấp

Tâm Thần

Bệnh Phong

Viện Dưỡng Lão

Bảo Trợ

Trẻ Em Khuyết Tật

Tăng, Ni Du Học

Y Học Dân Tộc

T.T.Đ An Lạc

Tây Tạng

Học Bổng

Cải Thiện Đời Sống

Phát Quà

Phát Thuốc

Lào (Phonsavan Say)

Thành Quả ở Lào

Trường Na Khôi

Trường Khe Mương

Trường Loong Hang

Mương Nước

Phát Quà

Trạm Y Tế

Trường Xúc Xám

Trường Khon Than

Bể Nước Vang Mú

Nepal

Miến Điện

Làng An Bình

Đạo Tràng Pháp Hoa

Ya Chiêm

Ấn Độ

Cam-Pu-Chia

Cuộc Sống

Phát Quà

Xây Trường Mới

Sửa Trường Củ

Phóng Sanh

Góp Nhặt

Quý vị có thể gởi tịnh tài giúp đở về  văn phòng “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” ở địa chỉ 52 Evelyn Wiggins Dr. Toronto ON M3J0E8 Canada. hoặc giúp đở trực tuyến bằng Paypal.  Quý vị có thể giúp cho chương trình từ thiện nào cần thiết nhất, hoặc yêu cầu thực hiện những chương trình mà quý vị mong muốn. “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” là tổ chức từ thiện bất vụ lợi với số đăng ký trừ thuế 88930 2006 RR0001, chúng tôi có đủ pháp lý cung cấp giấy khai thuế cuối năm cho quý vị trong lãnh thổ Canada

 Mọi đóng góp và thắc mắc xin liên lạc về: Eyes of Compassion

General Express logo

Int’L General Express Inc.

Phone: 416-591-6363

Nơi chuyển tiền đáng tin cậy.  Đã giúp MTNCĐ chuyển tiền từ thiện miễn phí trong thời gian qua

Chuyển tiền về Viet Nam, Trung Quốc, Campuchia

Trong buổi lễ khánh thành trường Loong Hang năm 2006, có một số người của những bản cách Loong Hang 20 - 30 km đến tham dự, và họ nói với chúng tôi khi ra về rằng bản của họ rất tha thiết mong được giúp đỡ một ngôi trường và hệ thống nước như bản Loong Hang, vì bản của họ cũng nghèo như Loong Hang và chưa có ai giúp gì cả. Còn dân bản Loong Hang thì ước mơ có được một trạm y tế để huyện cử y sỹ về chữa bệnh cho họ.
Trong thời gian làm trường học, chúng tôi đã hiểu được tâm tư nguyện vọng của bà con, và đó cũng là lý do thôi thúc chúng tôi chuyển lời thỉnh cầu của họ đến chị Diệu Liên.
Chỉ có 8 người thợ Việt Nam, nên khi cần thêm người làm chúng tôi phải thuê thêm một số người Lào để làm những công việc như đào đất, san nền, xẻ gỗ, lợp mái…để công việc được nhanh hơn. Tôi không hiểu tại sao những người Lào làm việc cho chúng tôi đóng đinh vô mái tole rất nhẹ, họ có sức khỏe song đóng đinh cứ như nhưng người kiệt sức vậy! Tôi đã nhiều lần nhắc họ phải đóng mạnh vào, nhưng họ vẫn làm rất nhẹ!
Đến một lúc không còn kiên nhẫn nữa, tôi hỏi tại sao không đóng thật mạnh, mà cứ đóng nhẹ hều như vậy? Anh Thông Xa Vắt, trưởng bản Na khẽ khàng trả lời:    - Sợ ma!
Tôi tưởng mình nghe nhầm, hỏi lại:
- Tại sao lại sợ ma?
Thông Xa Vắt giải thích:
-Nếu đóng đinh mạnh trên mái tole thì ma sẽ đến!
Anh em người Việt đều cười nghiêng ngả! Người Lào giải thích: “Đóng đinh nhẹ thì không sao, nhưng nếu đóng mạnh thì con ma trong rừng nghe tiếng ồn nó sẽ đến. Mà khi con ma đến là nó sẽ gây ra nhiều chuyện không hay. Nó sẽ làm cho dân bản bị đau ốm, bệnh tật. Rồi phải mua trâu bò, heo gà về để cúng ma”.
Hèn chi những lúc tôi đóng đinh là tất cả người Lào có mặt đều dừng tay để nhìn với vẻ mặt rất e dè và sợ hãi!
Tôi hỏi:
-Ma có nhiều không?
Thông Xa Vắt đáp:
-Ma nhiều lắm!
-Có thấy ma lần nào chưa?
Anh ta cười với vẻ mặt ngây thơ như trẻ con rồi trả lời:
-Chưa thấy!
Sau này chúng tôi mới biết Loong Hang không phải là tên một bản, mà là tên của một vùng đất – cũng có thể gọi Loong Hang là bản lớn. Trường Loong Hang được xây cất ở bản Na Buộc, gần đó còn có bản Họi Phùn và bản Na. Con em ba bản này sẽ đi học chung ở trường Loong Hang. Bản của Lào là một đơn vị hành chánh, tương tự như phường, xã ở Việt Nam. Nhưng dân cư thưa thớt và ít hơn xã ở VN nhiều.
Phía trong Loong Hang còn có bản Vang Mú, Khon Than, Xúc Xám, Lang Chong, Phôn Khăm, Pạc Hang. Bản này qua bản kia khoảng 5 - 7 km.
Một hôm đi qua nhà trưởng bản Họi Phùn, thấy ông ta đang lui cui làm cái gì đó như chuồng gà. Tôi hỏi làm cái gì, ông ta đáp:
-Làm cái nhà cho con ma ở.
-Thế làm nhà cho ma rồi để ở đâu?
-Đem vào rừng cho nó ở. Thỉnh thoảng phải đem xôi thịt vô cho nó ăn. Nếu không nó sẽ làm cho dân bản bị bệnh!
Cả vùng này có 9 bản, mỗi bản có ít nhất là 30 nóc nhà, nhiều nhất là 52 nhà. Ước tính tất cả khoảng hơn 2000 người. Vậy mà cả xứ này không hề có một trạm y tế để khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho bà con. Khi bị bệnh họ phải mời thầy cúng đến để cúng ma!
Nếu bị bệnh quá nặng, thầy cúng bó tay, khi đó họ phải khiêng người bệnh băng rừng lội suối khoảng 30km để tới bệnh viện huyện Phu Cụt. Dân bản nói nếu như họ có một “ Hồng mỏ nọi”( tiếng Lào bệnh viện = Hồng mỏ; nhỏ = nọi; nghĩa là bệnh viện nhỏ), thì khi dân bản bị bệnh sẽ được y tá chữa, không phải mời thầy cúng về cúng ma. Nếu bệnh nhân quá nặng y tá không chữa được thì họ sẽ dắt ngựa ra thồ bác sỹ ở bệnh viện huyện vô cứu chữa.
Cúng ma ( tiếng Lào gọi là liệng phỉ) là phong tục và cũng là cách cuối cùng khi dân bản bị bệnh! Tôi hỏi kỹ về chuyện này, dân bản cho hay:
Khi một người bị bệnh, dù nặng hay nhẹ họ đều cho rằng người đó đã làm điều gì khiến con ma phật ý! Ma nổi giận thì sẽ làm họ bị bệnh. Nếu bệnh nhẹ thì một thời gian cũng tự khỏi, và như thế là họ cho rằng người đó biết ăn năn hối cải, được con ma tha thứ! Nếu bệnh nặng, đã làm đủ mọi cách mà dân bản có thể nghĩ ra, nhưng vẫn không thuyên giảm hay khỏi bệnh, thì họ cho rằng chỉ còn cách mời thầy cúng về cúng ma mới hy vọng thoát được!
Dân bản kể rằng khi mời thầy cúng thì dù có khỏi bệnh hay không, gia đình người bệnh cũng phải tốn khá nhiều tiền. Bệnh nhẹ thì cúng heo gà, bệnh nặng phải mổ trâu bò để cúng. Cúng rồi mà không thấy bệnh thuyên giảm thì có nghĩa là con ma đó chưa hài lòng! Ví dụ một người bị bệnh, chữa trị bằng các thứ thuốc lá, rễ cây trong rừng không khỏi, thì họ phải nghĩ đến chuyện mời thầy cúng lo liệu. Lễ vật cho thầy cúng quả là một gáng nặng, đôi khi quá sức đối với một gia đình sinh sống bằng rau củ trong rừng, tự cung tự cấp ở một xứ không có chợ búa, mua bán. Có khi họ phải vay mượn để mua một con bò về làm thịt theo yêu cầu của thầy cúng. Khi “liệng phỉ”, dân bản tập trung xua đuổi con ma, cầu nguyện cho con bệnh tai qua nạn khỏi. Sau đó họ được ăn uống một bữa; còn thầy cúng thì no xôi chán chè lại còn được mang về một đùi sau con bò và 3 xương sườn! Có khi gia chủ phải cúng thêm cho thầy 200 – 300 nghìn Kip ( khoảng 20 – 30 us). Dù bệnh khỏi hay không, thầy cúng vẫn được những lễ vật đó. Nếu bệnh không khỏi, thầy cúng sẽ phán: “ Con ma này không ăn thịt bò, muốn khỏi bệnh thì phải cúng thịt trâu!”. 3 –5 triệu Kip một con bò ( khoảng 300 – 500 us). Cúng hoài mà vẫn không hiệu nghiệm thì thầy cúng lại phán: “ Con ma này rất cao tay, nó không chịu ăn thịt trâu bò, thôi không cho nó ăn nữa”! Thế là người bệnh nằm số phận định đoạt!.

Cũng có khi gia đình bệnh nhân thấy cúng không có kết quả đành đem người bệnh đi bệnh viện. Có người vẫn biết là dùng tiền mua trâu bò làm thịt để cúng ma đó để đem người bệnh đi bệnh viện vẫn hơn mời thầy cúng về “ liệng phỉ”. Nhưng họ nói phong tục “ liệng phỉ” đã ăn sâu vào suy nghĩ của dân bản, nên khó mà làm cho họ thay đổi được suy nghĩ! Hơn nữa bệnh viện huyện lại quá xa, đường sá khó khăn cách trở, khiến họ không dám nghĩ đến chuyện đi bệnh viện.

Có một đêm mưa gió, chúng tôi ngồi bên bếp lửa thì thấy một phụ nữ địu đứa con còn đỏ hỏn tay cầm bó đuốc tới nhờ giúp đỡ. Cô ta mới 22 tuổi, lấy chồng từ năm 15 tuổi, nay đã có 4 đứa con! Cô ta nói không muốn đẻ con thêm nữa, vì quá vất vả và không đủ ăn, nhưng vì chồng “ ngủ với vợ giỏi quá” nên có con liên tục! Cô ấy nhờ người ra phố mua giùm thuốc ngừa thai, người ta đem về cho một chai thuốc có hoạt chất Progestin, mỗi mũi chích có tác dụng ngừa thai 3 tháng. Cô ta phàn nàn là đã dùng bao cao su ( condom) nhưng không hiệu quả, do thấy đầu bao cao su dư một chút, nên chồng cô lấy dao cắt đi, và cô vẫn có bầu!!!
Nếu có “ Hồng mỏ nọi” thì dân bản sẽ xin chính phủ cấp thuốc để y tá chữa bệnh cho họ. Cả xứ Loong Hang có 6 y tá được đi học ở thủ đô Viêng Chăn, nhưng khi về bản thì không có trạm y tế để làm việc. Khi có phụ nữ sinh đẻ, họ đều lâm bồn tại nhà, vì không có trạm y tế để sinh con. Nếu mời được y tá thì họ mời, không mời được thì bà con tự lo liệu. Sẽ sinh tại nhà, dùng dao thái rau để cắt rốn! Và có thể xuống suối tắm ngay, chứ không cần kiêng cữ như phụ nữ VN!
Quãng đường rừng 30km, lên dốc xuống đèo và phải lội qua nhiều con suối mới ra tới huyện thật quá vất vả cho người bình thường đi bộ; nếu khiêng người bệnh đi thì không biết sẽ ra sao! Chiếc xe Honda tôi chạy từ VN qua cũng chỉ có một mình tôi chạy được trên con đường vô Loong Hang, không người thợ VN nào dám cầm lái. Có những con đèo dốc dựng đứng, có khi phải lấy đà chạy đến 6 lần mới vượt lên được. Mùa khô thì còn đi được, khi nhưng cơn mưa đổ xuống, nước suối dâng cao thì chẳng có cách nào để chạy xe. Dân bản gần như sống cách biệt với thế giới bên ngoài! Có những lần nước suối quá to, ngập hết ống xả làm xe chết máy, tôi phải dùng ống nhựa để nối vào ống pô để chạy qua suối.
Sau khi làm xong trường Loong Hang, có 6 người thợ VN ở lại trung tâm tỉnh Xiêng Khoảng để làm nhà cho người Lào, chỉ có 2 người về VN. Biết được điều này nên lâu lâu có người đi ra phố dân bản lại cử họ đến gặp mấy người thợ nhờ chuyển lời thỉnh cầu của dân bản tha thiết xin chị Diệu Liên và chị Diệp Yên Bình giúp xây dựng “ Hồng mỏ nọi” và Hồng hiên ( trường học).
Chúng tôi chuyển tới chị Diệu Liên và chị Diệp Yên Bình lời khẩn cầu của những con người hiền lành đáng thương này.
Cuộc sống của những người dân ở đây thật thiếu thốn. Qua bản nào cũng thấy rất nhiều trẻ em không có áo quần, thân mình lem luốc như người rừng! Người lớn cũng thiếu áo quần. Khi lội qua suối họ cởi quần áo cột lên đầu, lấy tay che vùng kín, qua bờ bên kia mặc vào đi tiếp. Khi đi tắm ở suối, dù có cả nam lẫn nữ, họ cũng vô bụi cây cởi quần áo, dùng tay che nơi cần che, rồi xuống suối tắm, xong lại vô bụi để bận lại quần áo! Chúng tôi thuê xe chở vật liệu làm nhà từ ngoài phố vô bản, xe phải vượt qua hơn 10 con suối mà chỉ có mùa khô mới đi được, còn mùa mưa thì chịu thua. Tài xế không hề vội vàng, cứ tà tà chạy, khi qua suối còn dừng lại cởi quần áo tắm cho đã rồi mới chạy tiếp! Chúng tôi có thúc giục đến mấy cũng chẳng ăn thua gì, họ hẹn 8 giờ sáng xe tới bốc xi măng, nhưng có khi tới chiều cũng chưa thấy, thậm chí hai ngày sau mới thấy xe tới! Dù có bực mình với người Lào cũng chẳng ích gì, có la mắng, hò hét, trách móc thì họ cũng cứ im lặng và cười, chứ không bao giờ cãi một lời! Tiếp xúc với họ lâu, mình trở thành người có đức tính kiên nhẫn!
Họ không có nhiều quần áo để thay, những người chỉ có duy nhất một bộ áo quần thì không dám giặt. Nhìn những bộ quần áo rách tả tơi của người lớn và những đứa trẻ không mảnh vải che thân có lẽ thánh thần cũng phải khóc!
Tôi đã gặp anh La, nam nay 45 tuổi, tóc rối lưng còng, như cụ già 70 tuổi! Anh La từ chối tắm rửa đã 15 năm nay! Anh Khăm Thi mà chúng tôi gọi là Bố, vì nghĩ anh ta khoảng 70 tuổi, răng đã rụng gần hết. Nhưng khi hỏi thì biết anh Khăm Thi mới 48 tuổi!
Ở xứ này người ta không biết làm gì ngoài việc đốn cây, cuốc đất làm rẫy để trồng lúa và bắp. Thực phẩm chủ yếu là rau, rêu dưới suối và măng rừng . Họ ăn tất cả những con côn trùng như kiến, mối, dế, ve sầu, gián, chuột, ốc sên…Có khi họ bắt được con dế sống bỏ ngay vào miệng nhai. Nước chấm thì chủ yếu là chế biến từ phân bò non. Khi làm thịt trâu bò, họ lấy phân non từ ruột trâu bò, pha với nước cho loãng ra, cho vô nồi đun sôi, rồi lọc bỏ bã bằng một lớp vải thưa. Thứ nước sền sệt màu xanh xám đó sẽ làm nước chấm xôi hay thức ăn hàng ngày! Khi khôngcó phân trâu bò, họ lấy ruột cá để thay thế. Anh em thợ VN lúc mới đến đây ăn như thế nên ai cũng bị tháo dạ!
Rêu đá nấu với vài con cá bằng ngón tay bắt dưới suối hay trứng kiến nấu rau rừng là món ăn khoái khẩu của dân bản. Họ ăn uống thật đơn giản. Nhưng không thể thiếu được ớt, bất kỳ món gì cũng thật nhiều ớt. Trẻ con 2 – 3 tuổi cũng ăn chung với người lớn, cay đến độ chảy nước mắt mà vẫn ăn, không đứa nào kêu ca! Người Lào rất mến khách. Họ thường mời chúng tôi đến nhà chơi uống rượu. Họ mời rất ân cần, ai cũng nghĩ phải là một bữa tiệc thịnh soạn lắm, vì thấy chủ nhà hì hục chuẩn bị từ trưa, đến tối mịt mới có ăn, nhưng khi bưng mâm lên thì chỉ có duy nhất một món đu đủ xanh xắt nhỏ trộn với phân bò non và ớt! Khi có ai bệnh, người Lào vẫn đem xôi và muối ớt cho người đó ăn, chứ không hề có món nào khác. Họ không biết nấu cháo, và rất ngạc nhiên khi thấy người Việt bị bệnh ăn cháo. Họ nói mỗi người Lào, kể cả con nít, ăn hết khoảng 10 kg ớt khô một năm!
Khi chúng tôi làm trường học, trạm y tế, dân bản quý mến vô cùng. Họ thường tổ chức từng đoàn người tới thăm viếng, hỏi han nhóm thợ VN đang làm việc tại đây. Mỗi khi họ tới thăm thế nào cũng có những món quà nhỏ, như vài quả ớt, quả trứng, có khi chỉ có 2 quả cà pháo! Một lần chúng tôi đang ăn cơm, bà con tới thăm, đem theo một gói mì ăn liền, họ cho nước sôi vào thật nhiều để làm canh, rồi chia nhau húp mỗi người một chút nước, còn lại thì trút hết vào cơm của anh em thợ VN!
Bà con xứ này gần như không biết làm gì ngoài cuốc rẫy làm nương. Họ gần như xa lạ với thế giới văn minh. Thấy bất kỳ cái gì lạ, họ đều dừng tay để nhìn; anh em thợ VN thì vừa làm vừa nói, nhưng người Lào thì mỗi khi muốn nghe điều gì họ phải dừng tay để nhìn và lắng nghe! Khi đang làm việc, nếu nghe tiếng máy bay là tất cả người Lào dừng tay và ngẩn người nhìn lên trời, cho đến khi không còn nghe thấy gì nữa mới quay trở lại làm việc!
Thấy chúng tôi trộn hồ, dân bản xúm lại coi rất đông. Họ nói chưa bao giờ được trộn hồ! Chúng tôi thuê họ làm, tất cả đứng nhìn nhau một hồi, rồi có một người đến vỗ vai tôi bảo:
-Chúng tôi không biết là thế nào để trộn hồ, nhờ anh làm giùm!
Tôi đã kể nhưng câu chuyện này với chị tôi. Chị tôi cười và nói: “ Thật tôi nghiệp! Chị phải giúp họ làm một trường học”. Và trong đợt này, ngoài trạm y tế của BD Foundation, còn có bác Nguyễn Thị Thu và chị tôi mỗi người giúp làm một ngôi trường.
Mùa mưa tới thì có nước để làm rẫy. Nhưng vắt và muỗi thì nhiều vô kể! Con vắt gần giống con đỉa. Lúc còn đói nó nhỏ như que tăm, có khi chỉ bằng cây kim, khi hút máu no nê thì nó có thể to như chiếc đũa, dài bằng ngón tay! Có người Lào rửa mặt ở suối, về nhà chảy máu mũi liên tục cả tuần liền, hốc mũi thỉnh thoảng đau nhói. Đi khám bệnh viện bác sỹ dùng thiết bị nội soi lôi ra một con vắt to như chiếc đũa, dài 10cm! Con cắt là động vật có vòng đời tính theo số năm, có khả năng tái sinh được. Một con vắt trưởng thành có thể hút 50ml một ngày! Nó luồn vào mũi, rồi lách vào các hốc xoang, giác hút của nó bám chặt vào niêm mạc, rồi hút máu để sống và to ra một cách nhanh chóng. Con vắt tiết ra chất chống đông máu, làm cho máu chảy hoài không cầm! Nguy hiểm hơn là nó có thể luồn từ hốc mũi qua họng, gây co thắt thanh quản khiến người bệnh khó thở!
Anh Thìn bạn tôi một hôm vào rừng xem gỗ gặp mưa, lúc về nhà cởi áo ướt ra thay, một cảnh tượng làm những người chứng kiến rùng mình: Một đám đen những con vắt căng mọng đang bám chặt vào lưng! Nách và những nơi khác cũng lầy nhầy nhưng đám vắt căng mọng! Chúng tôi phải lấy dao để cạo đám vắt đó khỏi lưng anh Thìn.
Vắt sống chủ yếu ở khe suối trong rừng. Mùa mưa nó sinh sôi nảy nở và hoạt động mạnh hơn. Nó nằm im trên cành cây và dưới đất, khi có tiếng bước chân đến gần, nó dựng đứng lên để định hướng, khi đương sự đến gần, nó búng nhẹ một cái là trúng và bám rất êm vào cơ thể để hút máu!
Nhưng người đi rừng chuyên nghiệp thường cột chặt ống quần và tay áo, đi giày vớ thắt chặt cổ chân. Nhưng vắt vẫn có thể luồn vào da họ để hút máu! Khi làm trường học cho bản Khon Than, chúng tôi đã chứng kiến một con chó bị vắt chui vào mũi. Nó chạy về nhà, mũi chảy máu ròng ròng! Anh Thao Xỉ vật nó nằm ngửa, rồi lấy cái tỉa lông mày của vợ cho vô mũi chó lôi ra một con vắt khá dài, to gần bằng chiếc đũa!
Thấy cảnh tượng đó, cứ chiều đi làm về anh em thợ lại nhờ nhau banh mũi ra, soi đèn pin để kiểm tra xem có con vắt nào cư trú trong đó không!
Mùa mưa còn có nỗi khổ khác là muỗi. Ở những bản vùng sâu xa như Loong Hang thường không làm nhà cầu. Họ đi vệ sinh trong rừng. Mỗi khi đi vệ sinh là muỗi xuất hiện nhiều như ong! Sợ nhất là muỗi gây bệnh sốt rét. Có nhiều người bị bênh sốt rét đến vàng da, người teo tóp rất dễ sợ!
Chương trình tại Lào năm 2007 này, chúng tôi đã thực hiện được một trạm y tế, hai trường học và hai hệ thống nước.
Trạm y tế BD Foundation được xây cất ở bản Na Buộc, với 5 phòng: phòng khám, phòng hộ sinh, phòng dược và trực cho nhân viên y tế, và hai phòng điều trị. Mỗi phòng đều có một bộ bàn ghế làm việc và một giường cá nhân; riêng phòng điều trị có 6 giường bệnh. Có đủ chiếu và mền. Trạm y tế này được dùng chung cho ba bản: Na Buộc, Họi Phùn và bản Na. Những người bệnh của các bản lân cận như Vang Mú, Khon Than, Xúc Xám, Lang Chong, Phôn Khăm, Pạc Hang cũng có thể đến đây để khám chữa bệnh. Trưởng bản cho hay ngoài 6 y tá đã được đi học, sau này huyện sẽ cử một bác sỹ về đây giúp bà con khám chữa bệnh. Nhưng trước mắt thì ít nhất bà con cũng được các y tá chăm sóc, chữa những căn bệnh thông thường, mà không còn phải tốn tiền mua bò về mổ để mời thầy cúng về “ liệng phỉ” nữa! Từ nay phụ nữ sinh nở sẽ được lâm bồn tại đây, chứ không phải là bên xó bếp.
Sau khi làm xong trạm y tế, chúng tôi tiếp tục làm trường học Nguyễn Hữu Tân ở bản Khon Than và trường Dương Thị Huệ ở bản Xúc Xám.
Khởi nguồn của chương trình làm trường học ở Lào là bản Na Khoi năm 2005( xin xem chương trình Phonsavan Say), sau đó các bản chưa có trường học đều cho người đến gặp chúng tôi để chuyển lời thỉnh cầu của dân bản về ý nguyện xin EOCVN và BD Foundation giúp cho mỗi bản một ngôi trường. Đến nay ước nguyện của bà con đã trở thành hiện thực!
Mỗi ngôi trường được làm ba phòng học. Trường đều làm bằng gỗ, mái lợp tole, vách thưng ván, nền bằng bê tông xi măng. Mỗi phòng học có 10 bộ bàn ghế học sinh, 1 bảng đen và một bộ bàn ghế cho giáo viên.
Cuối cùng là hai hệ thống nước do ân nhân Ton Nu Le Ba và BD Foundation đóng góp.

Chúng tôi xin chuyển lời cảm ơn của tất cả người dân các  bản  được thụ hưởng tới quý ân nhân đã giúp đỡ bà con. Xin chân thành cảm ơn tất cả quý ân nhân đã tiếp tay cho chúng tôi thực hiện chương trình này!

Xin trân trọng kính chào và chúc quý vị dồi dào sức khỏe!
Kính.
Phan Đăng Hòe.

Chi phí thực hiện chương trình:                                                                                                                           
1/ BD Health Clinic ở bản Na Buộc: gồm 5 phòng - phòng khám, phòng dược và trực cho nhân viên y tế, phòng hộ sinh và 2 phòng điều trị. Chi phí 7200us ( tính cả tiền công, bàn ghế và giường chiếu ).

2/ Trường học Nguyễn Hữu Tân ở bản Khon Than:  3 phòng học. nhà cột gỗ, vách gỗ, lợp tole, nền bê tông xi măng. Chi phí: 7000us ( tính cả tiền công, bàn ghế và bảng )                                                            
3/  Trường học Dương Thị Huệ ở bản Xúc Xám: 3 phòng học. nhà cột gỗ, vách gỗ, lợp tole, nền bê tông xi măng. Chi phí: 7000us  ( tính cả tiền công, bàn ghế và bảng )

4/ 2 hệ thống nước tại bản Vang Mú, mỗi hệ thống nước bao gồm: 1bể chứa nước 6m3 và hệ thống ống dẫn nước 1600m từ khe suối trong rừng về bản, Chi phí  mỗi bể nước và hệ thống ống dẫn nước là 850 us.
Tổng chi phí thực hiện chương trình tại Lào năm 2007: 22,000us và 1000 ca

Trở Lại Đầu Trang

Hình ảnh của bản Phonsavan Say, qua một người bạn kể lại và một số hình ảnh, làm Diệu Liên nhớ đến những ngôi làng nhỏ xa xăm nằm sát biên giới Lào, thuộc huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình, mà đã có một lần Diệu Liên và các anh chị em cùng sư Như Minh đi thăm hỏi và phát quà cho đồng bào nghèo trong chuyến đi mổ mắt năm 2002. Nhưng những nơi Diệu Liên đã đi qua thì chưa có nơi nào có sự nghèo khổ đồng loạt như bản làng Phonsavan Saỵ

Bản Phonsavan Say. Ở ngay bên cạnh thị xã Phonsavan của tỉnh Xiêng Khoảng, nơi có Cánh Đồng Chum nổi tiếng bí ẩn,  nhưng hầu như dân Lào đã lãng quên ngôi làng bé nhỏ nghèo nàn nầy rồi, vì hỏi thì không ai biết mà tìm thì không có trên bản đồ. 

Cả làng có khoảng 40 gia đình. Hầu hết là người H Mông ( người HMong nếu nhìn gần thì họ từ vùng núi phương Nam bên Trung Quốc qua Lào khoảng 200 năm nay, nhưng theo nghiên cứu sử học thì họ thuộc bộ tộc Bách Việt và nguyên thửy là một bộ tộc lớn của Bách Việt. Có  người bảo họ là người dân tộc Mèo, từ Trung Quốc xuống.). Chỉ có duy nhất 1 gia đình Việt kiều sống ở đây, gia đình nầy quê ở Lào Cai hay Yên Bái gì đó, sang Phonsavan Say từ năm 1943, lâu quá rồi, nên họ cũng không còn nhớ được nữa. Mới đây có anh Mùa Nơ Chua, 41 tuổi, người dân tộc H Mong ở Huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An cũng về đây lấy vợ, đúng là lá rụng về cội, nghèo khổ như vậy mà họ vẫn tìm về quê Hương.

Ở đây không có điện, không có hệ thông nước, không telephone, không trường học, không trạm Y tế … hầu như không có gì hết, ngoài trừ những túp lều rách nát không đủ che nắng che mưa. 

Họ sống bằng nghề làm nương rẫy, thức ăn tìm thấy ngoài chợ của làng là những con nhái nhỏ bằng ngón tay, nấu chung với măng. Họ còn ăn cả Rêu xanh nữa! Những món ăn khủng khiếp như: Nhái, Rêu, Bọ hung, Dế, Nòng nọc ở dưới suối, Da Trâu bò phơi khô, cá thối và cả phân non trâu bò nữa ( lấy trong ruột khi người ta làm thịt )! Ai nhìn thấy cũng đều kinh hãi.

Trong làng có 2 quán Bún Phở, nhưng họ cho bún hay phở vô tô rồi cho nước sôi, rau muống  và một chút ớt bột vào để ăn.

BỬA CƠM GIA ĐÌNH NGHÈO

Những căn nhà ở đây phần nhiều không bằng cái lều nuôi Vịt hay thua xa cái chuồng Heo ở VN. Những cái nhà khang trang nhất cũng gía trị chỉ khoảng từ $10 đến $30 Us! Có cái chỉ là một tấm bạt để che mưa nắng.

Nơi đây không có giường ngủ hay bàn ghế, họ trải tấm chiếu rách trên nền đất để ngủ, để ăn và để cho tất cả mọi sinh hoạt trong gia đình. Vùng này lạnh lắm, ngay cả mùa Hè vẫn lạnh và cũng phải cần áo ấm, khí trời se buốt như thời tiết ở Đà Lạt của VN, có nhiều lúc có tuyết. Dân làng lại không có chăn mền và áo ấm để mặc, mùa Đông có nhiều người chết vì lạnh. Quần áo của họ đều là đồ rách đi lượm về mặc, trẻ em thiếu quần áo, những lúc lạnh nhất các em cũng chỉ có chiếc áo mỏng tanh chạy chơi khắp làng.

Người Việt qua Lào làm ăn buôn bán cũng nhiều, đa số người nước ngoài vào tham quan đều thương mến người Lào, vì người Lào thật thà chất phác, không bao giờ lường gạt người khác. Chị Thiều Hoa, một Việt Kiều từ Pháp về du lịch các nước Á Châu, sau khi đi thăm nước Lào, chị Hoa tâm sự với Diệu Liên là ở với người Lào chị thấy an toàn và thoải mái khi sống gần gủi họ.

Hình ảnh thiếu thốn và cái lạnh buốc da trong điều kiện sống của người dân Phonsavan Say gợi nhớ lại những ngày vượt biển của Diệu Liên. Cái lạnh cái đói hành hạ đã làm Diệu Liên hiểu sâu về những hoàn cảnh của dân làng Phonsavan Say

Với những gì mình đã đi qua và những gì mình thấy và nghe tại bản làng Phonsavan Say, Diệu Liên viết những giòng chử nầy đến với quý ân nhân, mong mõi được sự tiếp tay của mọi người để “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đơì” có điều kiện giúp đở những dân nghèo ở đây

Chúng ta được may mắn có thành viên cũng như quen biết một số các anh thỉnh thoảng đi công tác bên Lào, và cũng đã nhận lời giúp chúng ta thực hiện một vài chương trình ở đây. Thời gian thực hiện những chương trình này là 2 tháng, hoàn tất trước muà mưa đến

Trước những khó khăn của dân bản Phonsavan Say, và kinh nghiệm của chúng ta trong chương trình giúp đở dân nghèo, các anh em thiện nguyện viên sẽ cố gắng thực hiện các chương trình sau:

1)     Làm công trình nước sạch cho cả làng. Mua ống nước, thuê thợ dẫn nguồn nước suối về những bể lớn, các bể sẽ được xây nhiều nơi theo nhu cầu của dân làng.

2)     Tặng chăn mền và áo quần ấm cho ông bà già và trẻ em

3)     Trồng trọt

4)     Làm lại một số căn nhà cho những gia đình nghèo nhất đang sống trong lều

Vì khả năng giới hạn của dân làng nên chúng ta không thể thuê người tại địa phương cho công việc xây dựng nầy. Để bảo đảm chất lượng và thời gian của công trình, chúng ta đang làm giấy tờ để đưa thợ tại Việt Nam qua làm việc tại Phonsavan Saỵ. Trong vòng 10 ngày đến, các anh em tại quê nhà và nhóm thợ xây dựng sẽ rời xa gia đình nhiều tuần để giúp chúng ta thực hiện chương trình Phonsavan Say. Một lần đi một lần khó, nên chúng ta sẽ cố gắng thực hiện tối đa những gì chúng ta có thể làm trong điều kiện tài chánh cho phép

Tôn Nữ Diệu Liên

Toronto - Canada - 2005

HÌNH ẢNH NHẬN ĐƯỢC NGÀY 20 THÁNG 7 NĂM 2005

HÌNH ẢNH NHẬN ĐƯỢC NGÀY 24 THÁNG 6 NĂM 2005

Cơm và cà muối

Trời nắng nhưng vẫn lạnh

Ngôi nhà của cặp vợ chồng mới cưới

Hai Mẹ con đói khổ

Ngôi nhà kiên cố ở bản Phonsavan Say

Trẻ thơ không có quần

Bà cụ đi lấy nước trên đồi

Bà cụ người Việt Nam qua đây đã lâu rồi

Anh Phan Đăng Hoè đứng trước một căn nhà nghèo nàn ở bản Phonsavan Say

Toronto, ngày 27 tháng 7 năm 2005

Kinh thưa quý bác cùng tất cả anh chị em

Trong những tuần qua Diệu Liên rất sung sướng khi nhận được nhiều thư từ thăm hỏi, khích lệ và nhiều tịnh tài đóng góp cho chương trình Phonsavan Say. Đây là chương trình đầu tiên của chúng ta hướng đến nước Lào nghèo khổ, và cũng là một trong những nơi mà sự giúp đở mang rất nhiều ý nghiã bởi sự nghèo khó của họ.  Vì được sự ủng hộ của nhiều ân nhân và số tịnh tài gởi về nhiều hơn dự tính, nên chương trình dành cho làng Phonsavan Say sẽ được làm quy mô hơn. Chúng ta đã được nhìn thấy những căn nhà rách nát, được che đậy bằng những tấm giấy cạt tông, đã nhìn thấy những cụ già phải rơì làng đi thật xa để xách nước về dùng, và những bửa cơm chiều tội nghiệp của một số gia đình, vì vậy dự tính của chúng ta sẽ tập trung vào vấn đề Dẫn Nước Sạch vào bản hoặc đào giếng, sẽ xây dựng một số căn nhà nghèo nhất, cung cấp mền cho muà Đông vì ở đây thỉnh thoảng cũng có Tuyết rơi, cung cấp mùng để tránh bệnh tật vì muỗi. Ngoài ra chúng ta sẽ cung cấp thêm hạt giống dể trồng trọt và có khả năng sẽ cho ngươì ta chăn nuôi.      

Trong lúc viết những dòng chử nầy đến với quý ân nhân thì một số anh em đã bắt đầu lên đường công tác ở Phonsavan Say, dù trong lúc muà mưa nhưng các anh em đã không ngại khó khăn, quyết chí hoàn thành những chương trình đã định càng sớm càng tốt, đây cũng là điểm đáng khen của các anh em mà sự phục vụ cũng là một phần niềm vui của chính mình

Trở Lại Đầu Trang