MTNCD logo chinh 2
donate

Những Khó Khăn

Cách Giải Quyết

Ban Điều Hành

Những Thành Quả

Cách Giúp Đỡ

Tình Người

Trang Tiếng Anh

eyes of compassion logo for thanking letter final

RELIEF ORGANIZATION

Mổ Mắt

Hệ Thống Nước Sạch

Giếng Nước

Bể Nước Mưa

Lu Nước Mưa

Xây Dựng Cơ Sở

Trạm Xá

Trường Học

Nhà Tình Thương

Nghĩa Địa Thiếu Nhi

Nhà Điều Dưỡng

Cầu Cống

Thiên Tai

Bảo Ketsana 2009

Trường Huấn Nghệ

Bệnh Hiểm Nghèo

Mổ Tim

Cháy Bỏng

Khẩn Cấp

Tâm Thần

Bệnh Phong

Viện Dưỡng Lão

Bảo Trợ

Trẻ Em Khuyết Tật

Tăng, Ni Du Học

Y Học Dân Tộc

T.T.Đ An Lạc

Tây Tạng

Học Bổng

Cải Thiện Đời Sống

Phát Quà

Phát Thuốc

Lào (Phonsavan Say)

Thành Quả ở Lào

Trường Na Khôi

Trường Khe Mương

Trường Loong Hang

Mương Nước

Phát Quà

Trạm Y Tế

Trường Xúc Xám

Trường Khon Than

Bể Nước Vang Mú

Nepal

Miến Điện

Làng An Bình

Đạo Tràng Pháp Hoa

Ya Chiêm

Ấn Độ

Cam-Pu-Chia

Cuộc Sống

Phát Quà

Xây Trường Mới

Sửa Trường Củ

Phóng Sanh

Góp Nhặt

Quý vị có thể gởi tịnh tài giúp đở về  văn phòng “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” ở địa chỉ 52 Evelyn Wiggins Dr. Toronto ON M3J0E8 Canada. hoặc giúp đở trực tuyến bằng Paypal.  Quý vị có thể giúp cho chương trình từ thiện nào cần thiết nhất, hoặc yêu cầu thực hiện những chương trình mà quý vị mong muốn. “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” là tổ chức từ thiện bất vụ lợi với số đăng ký trừ thuế 88930 2006 RR0001, chúng tôi có đủ pháp lý cung cấp giấy khai thuế cuối năm cho quý vị trong lãnh thổ Canada

 Mọi đóng góp và thắc mắc xin liên lạc về: Eyes of Compassion

General Express logo

Int’L General Express Inc.

Phone: 416-591-6363

Nơi chuyển tiền đáng tin cậy.  Đã giúp MTNCĐ chuyển tiền từ thiện miễn phí trong thời gian qua

Chuyển tiền về Viet Nam, Trung Quốc, Campuchia

Góp Nhặt

Phóng Sanh

Tới Bờ Tự Do

Từ Thiện 2012

Thăm Xứ Ấn

Một Chiếc Dép 

Cá Thủy Tinh

Đạo Tràng Pháp Hoa

 Làng An Bình

Đứa Con Hiếu Thảo

Quà Xuân

   Bão Durian

Bảo Trợ Hàng Năm

 Ước Mơ

 Tình Cha

Ấp Ủ

Thương Mẹ

Hạnh Phúc Đơn Sơ

Khuyết Th

Lu Nước Sạch

Bản Phonsavan Say

Niềm Đau Tuổi Thơ

Quê Hương

Chị Tôi, Em Tôi

Mãnh Đời Buồn

Anh Hài

Cầu Hiểu Cầu Thương

 


Chuyến về Việt Nam làm Từ Thiện của MTNCĐ 2012

Rời Canada trong chuyến bay Hàn Quốc, chúng tôi dừng chân tại Seoul vài giờ đồng hồ trước khi đáp máy bay về Việt Nam. Phi trường Hàn Quốc rất đẹp, ngoài những cửa tiệm buôn bán tấp nập, còn có vài gian hàng mang tính văn hóa, mọi người có thể ngồi thưởng thức phần trình diễn âm nhạc đặc thù của xứ nầy.

Năm nay chúng tôi trở lại quê nhà vào tháng 2, mong cho trời khô ráo để dễ dàng di chuyển. Tuy vậy vẫn không tránh được nhưng cơn mưa của miền Trung và Trung Bắc, vừa dai dẳng vừa lạnh lẽo thật là khó chịu.
Vừa đáp xuống Sài Gòn chúng tôi bay thẳng ra Huế, đó là điểm hẹn với đoàn Thiện Duyên, gặp nhau để làm một số công tác từ thiện trước khi các anh chị nhóm Thiện Duyên trở về lại Canada. Huế lúc nắng lúc mưa, thời tiết còn lạnh, tuy vậy chúng tôi vẫn lên đường.

Đi thăm các em học sinh nghèo đang được MTNCĐ bảo trợ ở Huế

Hôm nay trời nắng, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Văn Quân và em Phương, chúng tôi ghé thăm trường cấp 2 Phú Xuân huyện Phú Vang, trường Bến Ván, trường cấp 3 Phú Lộc, trường cấp 2 Phú Lộc, và khảo sát các gia đình cần nhà tình thương. Quân và Phương là hai thiện nguyện viên đắc lực của MTNCĐ, nhờ là thầy giáo trường làng nên Quân biết rất nhiều học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Sau khi nhận được danh sách học sinh nghèo từ ban giám hiệu các trường, Phương cùng Quân đi kiểm tra từng gia đình để chọn lọc những học sinh nghèo thật sự. Qua việc đến từng nhà, hiểu rõ từng hoàn cảnh nên Phương và Quân giúp MTNCĐ, không chỉ chọn học sinh nghèo, mà còn chọn ra những căn nhà đổ nát cần được giúp xây dựng.

Khi nhìn các cháu giữa đám học sinh, chúng ta khó phân biệt được ai là người đang cần sự giúp đỡ. Các cháu mặc đồng phục giống nhau, sinh hoạt vui tươi trong một trường học được sơn quét khá tươm tất. Nhưng khi chúng tôi tập họp các cháu đã được Phương và Quân chọn lọc, mới hiểu được sự bất hạnh của từng cháu như thế nào. Chỉ cần ôm các cháu vào lòng, hỏi thăm tình trạng gia đình và nếu là người có hoàn cảnh bất hạnh thì các em sẽ khóc, kể lể chuyện gia đình và không quên cám ơn những ân nhân đã tạo điều kiện để các cháu còn được đến trường trong thời gian qua. Trường hợp đặc biệt xảy ra cho cháu Khánh Ly. Chúng tôi đến thăm cháu ngay ở nhà, căn nhà nghèo nàn không có cửa ngõ, các Anh Chị trong đoàn Thiện Duyên giúp đỡ làm cửa cho an toàn, mua xe đạp mới cho cháu …. Chúng tôi đến thăm gia đình cháu Nguyễn Thành ở trường Phú Lộc, căn nhà cháu ở tôì tàn và nhỏ xíu như hộp diêm, MTNCĐ hứa làm cho mẹ con cháu một căn nhà tốt nhưng với điều kiện bà con lối xóm và chính quyền phải tạo điều kiện như cấp thẻ đỏ cho mảnh đất và giúp công xây nhà. Đến hôm nay thì Phương và Quân đã hoàn tất việc xây dựng căn nhà này. Ngoài ra chúng ta đã cung cấp một số sách giáo khoa cho các em và những tủ sách “học làm người” cho nhà trường.

Song song chuyến đi thăm học sinh các trường, chúng tôi cùng làm việc với em Tô Diệu Lan, người phụ trách chính của MTNCĐ về chương trình xây sửa nhà rách nát, để khảo sát và thực hiện 2 căn “Nhà Tình Thương” cho anh Nguyễn Văn Chung và anh Phan Văn Quang tại làng Châu Chử - Thừa Thiên Huế. Các thiện nguyện viên nhiều nơi gửi đến chúng tôi những hoàn cảnh khó khăn chưa có nhà ở tại địa phương các anh đang hoạt động và chúng tôi hứa sẽ tìm cách thăm viếng và thực hiện trong thời gian còn lại ở Việt Nam.

Phát quà Thiên Tai - Hà Tĩnh 

Ngày hôm sau, chúng tôi rời Huế đi Hà Tĩnh. Trời bắt đầu mưa nhẹ và khá lạnh. Ở Hà Tĩnh chúng tôi làm việc với giáo xứ Dũ Thành, do Cha Nga quản nhiệm, giúp chọn địa điểm và đối tượng nhận quà.

Điểm phát quà đầu tiên là làng Sơn Thành xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh, chúng tôi đưa hàng đến thì bà con đã có mặt từ lúc nào. Trời mưa lâm thâm, những cụ già và em bé mặc những chiếc áo mưa đứng chờ. Có lẽ không mượn được một chỗ thích hợp nên ban tổ chức phải tạm dựng nên một căn lều lớn để tập trung dân. Sau khi có vài lời chia sẻ, chúng tôi bắt đầu phát quà. Chúng tôi phát 150 phần quà, gồm có 10 kí gạo, 1 chiếc mền rộng, 1 đôi boot ống cao, và một chiếc áo ấm, tổng cộng trên 300 ngàn đồng Việt Nam. Chúng tôi trao quà tận tay, dù lúm úm cùng nhau trong căn lều nghèo nàn nhưng không làm vơi đi tình cảm nồng nàn mà người hải ngoại mang về để san sẻ.

Chúng tôi ở lại qua đêm tại giáo xứ Dũ Thành, đoàn được cha Nga, và giáo dân nhà thờ tiếp đãi tận tình, vui vẻ, mọi người có một giấc ngủ ngon trước khi làm việc tiếp.

Điểm phát quà thứ hai mà chúng tôi đến là xã Hòa Lạc, huyện Thạch Hà. Hôm nay trời cũng mưa nhẹ, từ xa đã thấy bà con tụ tập chờ đợi, đường vào làng hư hỏng trầm trọng do nước lũ xói mòn, nên xe gặp nhiều khó khăn đi vào địa điểm phát quà. Người dân Hoà Lạc và vùng phụ cận đứng dưới cơn mưa lạnh mà họ đi chân đất, những khuôn mặt khắc khổ của các cụ già, những chiếc áo mưa rách nát nói lên được đời sống người dân vẫn còn cơ cực. Địa điểm này dù phần tổ chức gặp nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung, mọi người đến nhận quà trong trật tự, vui vẻ và gởi gắm cho nhau những ánh mắt thân thương. Các cụ già cứ nhắc hoài là đoàn cố gắng về lại trong những năm đến. Cùng trong ngày, chúng tôi đi thăm từng gia đình nghèo và tàn tật trong khu vực, các anh chị nhóm Thiện Duyên tặng thêm tiền cho nhiều gia đình gặp khó khăn nhất.

Để tổ chức 1 chuyến đi cứu trợ thiên tai có phẩn chất, về việc chọn đúng hoàn cảnh, tặng đúng mặt hàng đáp ứng nhu cầu của địa phương, giá mua hàng thấp, đều rất cần sự đóng góp của nhiều người tham gia trực tiếp và gián tiếp. Trong chuyến cứu trợ này chúng ta không quên sự yểm trợ, gián tiếp và tận tình, để chuẩn bị hàng trước giờ lên đường, đó là sự có mặt của qúy Cô, Dì và các chị trong chương trình cựu học sinh Quốc Học và Đồng Khánh (QH&ĐK) tại Huế, do chị Ngô Phương Hương đại diện điều động lo việc chọn mua hơn 300 chiếc áo ấm loại Đồ bành (hàng cũ từ nước ngoài nhập vào Việt Nam, dù cũ nhưng chất lượng cao hơn hàng nội địa), với tiêu chuẩn nhẹ, bền, mới, rẻ … QH&ĐK đã đi mua về đem giặt, xếp bỏ từng bì thật đẹp, ai cũng tưởng là hàng mới tinh

Đến Quảng Trị

Chúng tôi rời Hà Tĩnh đi vào Quảng Trị ngủ qua đêm. Sáng hôm sau, đón thêm anh Lê Văn Diêu, trưởng ban Từ Thiện tỉnh Quảng Trị, anh Dũng chị Hương của đoàn Thiện Duyên và tất cả chúng tôi cùng lên đường tiếp tục công tác từ thiện.

Ở Quảng Trị, chúng tôi đi thăm bệnh nhân chất độc da cam, bệnh nhân tâm thần, tùy theo trường hợp của từng hoàn cảnh, chúng tôi giúp đỡ họ vượt qua tình trạng khó khăn. Ở huyện Cam Lộ, có cháu Hoàng Thị Phương bị bại liệt, nên mẹ đang vay tiền nuôi một con bò để vừa ở nhà lo cho Phương vừa kiếm thêm tiền lo cho kinh tế gia đình. Quỹ Thiện Duyên đã giúp trả nợ cho chị. Chúng tôi thăm gia đình có 3 người con mà cả 3 cháu đều tàn tật, theo yêu cầu của gia đình, vì không tìm được một phương thức khác hơn để tạo nghề nghiệp cho người chồng, chúng tôi đành cung cấp tiền mua 10 con heo con, bà con địa phương sẽ giúp gia đình làm chuồng.

Nơi đây có nhiều chùa chiền và sinh hoạt Phật Giáo rất mạnh, chúng tôi theo ban từ thiện Quảng Trị đi thăm một số niệm Phật đường và 1 vài ngôi chùa đang có dự án xây dựng. Ghé qua chùa Lâm Lang, chùa Cam Vũ, chùa Đình Xá… Chúng tôi giúp quỹ may áo quần đồng phục cho các em gia đình Phật Tử, in thêm kinh Nghi Thức Tụng Niệm, và ghi nhận 2 ngôi chùa đang chuẩn bị xây được đánh giá cao vì sự thực dụng của nó, nhưng vì vẫn còn trong thời gian chuẩn bị, chưa bắt đầu khởi công với bảng vẽ chi tiết nên chúng tôi đành hẹn lại, không dám vội vàng.

Viếng xong các Chùa thì trời cũng đã về chiều, chúng tôi chia tay anh Diêu và các Anh trong Ban Từ Thiện Quảng Trị trong một quán Mì Quảng bên đường, tiếng nói tiếng cười vui như ngày hội, mong mỏi sẽ có những ngày làm việc như thế nầy trong tương lai. Đoàn rời Quảng Trị và xe trở lại Huế lúc 8 giờ đêm.

Trở lại Huế

Nghỉ ngơi vài hôm, chúng tôi ghé về thăm hội người mù Phú Vang, Huế. Hội có 228 người, thường trú vào khoảng 30 người. Nơi ở còn hạn chế và mưa dột. Phòng ăn và phòng vệ sinh chung trong một khu vực, rất mất vệ sinh.

Cùng đi với chúng tôi có nha sĩ Trương Đăng Quang, một người có lòng muốn giúp làm răng cho người mù ở đây. Anh Quang dự định sẽ khám nghiệm và làm lại răng cho người mù Phú Vang. Anh sẽ kết hợp với các vị nha sĩ và bác sĩ khác để thực hiện chương trình nầy, họ chỉ cần lấy lại tiền chi dụng cho vật liệu.

Chúng tôi được bác sĩ Nguyễn Viết Nhân, từ văn phòng Tư Vấn Di Truyền và Hỗ Trợ Trẻ Em Khuyết Tật, sắp xếp gặp bác sĩ Trần Thị Đoan Trang, để được học hỏi về chương trình phát phiếu ăn cho các bệnh nhân nghèo trong các khoa như khoa Ung bướu, khoa Nhi, khoa Lây đang điều trị tại bệnh viện Trung Ương Huế. Sau đó chúng tôi được hướng dẫn đi thăm bệnh nhân khoa Ung bướu và được phép đến gần thăm hỏi những người bệnh trong hoàn cảnh thiếu thốn. Chúng tôi chưa quyết định cần phải làm những gì nhưng có những phương án thực tiễn có thể giúp được cho những người bệnh thiếu may mắn sau nầy.

Quảng Nam và Tam Kỳ

Xe tiếp tục lăn bánh vào thành phố Đà Nẵng ở lại 1 đêm, sáng sớm hôm sau trực chỉ đi lên huyện Quế Sơn. Thầy giáo Trần Đình Phúc đón trên đường và đưa chúng tôi đến những điểm dự định. Địa điểm đầu tiên là nhà trẻ Phúc Tâm Duyên, do quỹ MTNCĐ xây dựng vào năm 2010, phát triển rất tốt đẹp. Đồng thời thăm công trình mở rộng nhà trẻ Phúc Tâm Duyên được bà Việt Tú - một Việt kiều Pháp quốc, đóng góp tịnh tài, khoảng 10,000 Euro, xây thêm một lớp học bên cạnh. Chúng tôi ngồi hàn huyên cùng cô Hiệu trưởng và anh Phúc, tìm thêm phương án làm cho sinh hoạt của trường bền vững và mang nhiều lợi ích

Chia tay cô Hiệu trưởng và các cô giáo, anh Phúc đưa chúng tôi đi thăm những căn nhà tình thương rách nát cần sự giúp đỡ. Ở đây, chúng tôi thấy một hoàn cảnh rất đáng thương, gia đình chị Nguyễn Thị Tâm, chồng vừa qua đời, đang ở trong một căn nhà che bằng những tấm bạt với 4 đứa con nhỏ. Nhìn qua hoàn cảnh và điều kiện đang sinh sống chúng tôi đã không cần do dự, bằng lòng giúp để xây một căn nhà tình thương. Chúng tôi đi thăm thêm những gia đình đã được giúp xây giếng nước trước đây, thăm các bệnh nhân mang bệnh hiểm nghèo không có tiền điều trị, họ theo xe ra Huế để giới thiệu vào bệnh viện Trung Ương Huế, nơi mà MTNCĐ có nhiều mối quan hệ tốt với các bác sĩ và y tá có thiện tâm, để việc chữa trị được dễ dàng, chi phí thấp mà kết quả cao.

Nghỉ trưa ở nhà thầy giáo Phúc, chúng tôi được gia đình và các cô giáo nhà trẻ Phúc Tâm Duyên đãi món Mì Quảng chay rất ngon, Quế Sơn trời đầy nắng và nóng, chúng tôi phải nghỉ ngơi cho bớt nóng trước khi lên đường. Trong chuyến đi Quảng Nam chúng tôi có đón em học sinh Khánh Ly đi Tam Kỳ thăm bác sĩ  Nguyễn Ngọc Thanh, từ Hoa Kỳ, là người bảo trợ cho Khánh Ly ăn học trong thời gian qua. Chúng tôi đến trung tâm tâm thần của tỉnh Tam Kỳ, để cháu Khánh Ly gặp cô Thanh, là nơi mà Ni sư Chúng Liên và các anh chị thiện nguyện trong đoàn cô Ngọc Thanh đang phát quà tặng bệnh nhân. Dù đã biết tin tức nhau thông qua MTNCĐ, nhưng khi được gặp nhau, cô Thanh và cháu Khánh Ly không sao dấu được nổi xúc động và vui mừng. Khánh Ly được cô Thanh đem về khách sạn tâm sự, nhìn hai người xem như đã thân nhau từ lâu lắm rồi và lúc chia tay, Khánh Ly đã không sao cầm được nước mắt. Chúng tôi về Tịnh Xá Ngọc Kỳ và được Ni Sư Liên Chúng từ bi mời ăn bữa cơm chiều. Sau bữa cơm, chúng tôi chia tay Ni Sư cùng phái đoàn cô Ngọc Thanh để về lại Huế. Trời chiều và nắng đã dịu hẳn, chúng tôi đến Huế khi trời đã tối, phải đưa cháu Khánh Ly về với núi rừng của cháu nên lại càng khuya thêm. 

Nghỉ thêm một thời gian ngắn là đến ngày anh Nguyễn Văn Minh, ông xã của Diệu Liên, vào Sài Gòn để về Canada. Trong dịp này chúng tôi kết hợp cùng các anh chị trong chương trình Hiểu và Thương (H&T) đi khảo sát các chương trình xây cầu, xây nhà tình thương và hệ thống nước bơm hoa màu.

Mổ mắt ở Sài Gòn

Trước khi theo các anh về Đồng Nai, Long Thành làm việc, chúng tôi ghé ngang qua Trung Tâm Mắt Kỹ Thuật Cao (TTMKTC) ở Sài Gòn, vì MTNCĐ đang có 36 ca mổ mắt cho bệnh nhân nghèo mù loà từ tỉnh Bình Thuận, do sư cô Hạnh Pháp chùa Thiền Quang thành phố Phan Thiết giúp tổ chức. Bác sĩ Nguyễn Xuân Vũ từ TTMCTC, là người sẵn sàng hợp tác với các chương trình từ thiện giúp bệnh nhân mù loà, mổ 1 ca đục thuỷ tinh thể chỉ tốn 700 ngàn đồng Việt Nam so với giá bình thường vào khoảng 5 đến 6 triệu đồng. Đây cũng là trung tâm chính để chúng ta gởi các bệnh nhân từ Đồng Nai, Long Thành, Cà Mâu về mổ. Trung tâm được đánh giá cao về phẩm chất chữa trị đã làm cho bệnh nhân nghèo rất an tâm khi được đưa về đây. Bác sĩ Vũ và các bạn đồng nghiệp cũng là những người đã giúp đỡ đợt mổ 300 ca mắt của MTNCĐ ở Cambodia vào năm 2009.

Chúng tôi tiếp xúc nhiều hoàn cảnh khác nhau, anh Võ Văn Tuấn, 34 tuổi, làm nghề đánh cá, có người mẹ bị mù. Khi mắt anh bị mờ và biết là sẽ đi theo vết xe của mẹ nên anh rất sợ hãi, anh được người anh họ đưa đi theo đoàn để chữa trị. Anh bị cườm nước nên không thể mổ được mà chỉ điều trị bằng cách điểm thuốc. Chúng tôi gửi sư cô Hạnh Pháp 1 số tiền mua thuốc điểm dài hạn cho anh, an ủi anh và không quên tặng ít tiền cho người anh họ, đã bỏ công việc riêng để khuyến khích và chăm sóc anh Tuấn trong chuyến đi này. Người anh họ này để lại cho chúng tôi 1 ấn tượng rất sâu và rất đẹp về tình cảm anh em họ của người dân quê, vì khi nghe tin em mình không được mổ để chữa triệt căn bệnh, anh ta rất đau khổ, mặt bơ phờ, chạy tìm người này xin gặp người kia, hỏi mọi phương cách tìm đường cứu em nhưng vẫn chưa có câu trả lời như ý anh mong muốn.

Còn có 3 người khốn khổ đó là bà Đoàn Thị Hoà, bà Vũ Thị Tuyết và bà Lê Thị Thương, độ tuổi 60 đến 80, quê quán ở Thanh Hoá, vì quá nghèo nên vào làm việc không lương cho cơ sở nuôi dưỡng tâm thần, ở huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng. Cả 3 bà đều bị đục thuỷ tinh thể và trong đợt này được mổ thành công. Chú Thu, trưởng ban điều hành cơ sơ nuôi dưỡng tâm thần, cho biết 3 vị này dù không có lương nhưng làm việc vất vả, vừa nấu ăn vừa giặt giũ, làm quần quật cả ngày để phục vụ hàng chục bệnh nhân tâm thần, với tuổi già và sức khoẻ ngày một yếu đi nên công việc ở cơ sở cũng rất vất vả cho 3 bà, chúng tôi đã trích quỹ Thiện Duyên để giúp tiền “bỏ túi” cho 3 bà.

Ngoài ra, đợt mổ mắt lần này, từ bệnh nhân cho đến thiện nguyện từ tỉnh Bình Thuận, được Nhóm Thuyền Đom Đóm, thành phố Sài Gòn, ủng hộ phần ăn và nước uống khi chữa trị tại Trung tâm Mắt. Chúng tôi có dịp nói chuyện với em Nguyễn Phạm Tuấn Anh, người đại diện của nhóm, được biết nhóm Thuyền Đom Đóm, được thành lập từ những em thanh niên rất trẻ, cùng nhau tổ chức những chương trình nhỏ trong khả năng của các em, rất đáng khích lệ.

Về Đồng Nai:

Rời Trung Tâm Mắt Kỹ Thuật Cao, anh Hà từ H&T đưa chúng tôi về thẳng Đồng Nai quan sát công trình xây cầu. Vì việc ghé thăm chương trình mổ mắt nên chúng tôi đến rất trễ. Nghe các anh nói bà con đã đợi hàng giờ để mong gặp mặt, chia sẻ và cám ơn nhưng cuối cùng phải ra về. Chúng tôi tiếc nuối và gửi lời xin lỗi đến mọi người. Chúng tôi cùng các anh Hà, anh Lộc, anh Sanh (H&T) đi thăm các căn nhà tình thương đã được MTNCĐ hỗ trợ vật liệu xây dựng, công thợ được giúp từ bà con và hàng xóm. Chúng tôi đi thăm Cầu Suối Lớn, cầu đang thi công và sẽ hoàn thành trong tháng đến, cũng được quỹ MTNCĐ hỗ trợ và các anh H&T lo điều hành việc xây dựng.  Chúng tôi tiếp tục đi thăm những cầu đã làm và những dự án sẽ làm trong tương lai ở đây để khi có kinh phí, chúng ta không mất thời gian tham khảo và đi khảo sát.

Đặc biệt nhất trong chuyến về Đồng Nai là được đi thăm một cây cầu ở Suối Trầu. Đây là một cây cầu treo được kết bằng những tấm ván thô sơ, dài khoảng 17m, cao cách mặt nước 6 mét, giao thông qua lại rất nguy hiểm. Tổng số dân 2 xã là 500 hộ và 1000 hộ, ước lượng khoảng 5000 đầu người, đây là vùng Kinh Tế Mới. Để có phương tiện qua lại cho người dân hai xã, đồng bào đã 9 lần tự xây cầu qua con suối tên Suối Trầu này, thay đổi 4 địa điểm. Vì dòng nước chảy mạnh, nên trong các mùa nước lớn đã cuốn trôi hay làm sập 8 cây cầu làm bằng tre bằng gỗ trước đây. Cầu được sử dụng để chuyển hàng hóa nông sản bằng xe Honda và xe công nông, đi chợ, đi học, đi chùa, đi nhà thờ, đưa người bệnh đi bệnh viện huyện, không còn nguy hiểm về tính mạng, buôn bán dễ dàng, tạo điều kiện phát triển kinh tế 2 ấp và cũng là con đường giao thông của các xã vùng phụ cận. Chúng tôi khi trở lại nhà cuả các vị có trách nhiệm trong ấp cùng với các anh H&T, bàn bạc và đánh giá chi phí cho việc xây dựng, dự đoán khoảng 200 triệu VN.

MTNCĐ sẽ chi 150 triệu và 50 triệu còn lại sẽ quyên góp từ người dân địa phương. Sau nầy khi chúng tôi về lại Canada, quyết định có phần thay đổi là MTNCĐ sẽ giúp đỡ chi phí xây dựng toàn bộ cây cầu, người dân ở hai ấp sẽ đóng góp bằng công sức, tránh vấn đề quyên góp tiền bạc vì có thể đưa đến những tình trạng tiêu cực. Khi quyết định làm lại cây cầu ở đây, không chỉ các anh chương trình H&T, mà toàn bộ các vị ngồi trong buổi đánh giá hôm đó mừng vui khôn xiết, có lẽ đây là một giấc mơ lớn của họ mà trong thời gian qua, họ đã trầy truột chắp vá để tạo phương tiện di chuyển cho 2 xã.

Rời Suối Trầu, chúng tôi ở lại qua đêm tại nhà anh Hồ Vũ Bình, 1 thành viên của H&T. Sau buổi cơm tối, chúng tôi ngồi lại với nhau rất vui, hàn huyên những việc từ thiện tại miền Nam. Anh Bình là người giúp chúng ta quản lý vật liệu và đúc thúc việc xây dựng cầu ở Đồng Nai, mà cũng là người giúp sắp xếp bệnh nhân mổ mắt để đưa về Trung Tâm Mắt Kỹ Thuật Cao.

Buổi sáng thức giấc trong cảnh yên tĩnh, chúng tôi được ăn xôi đậu điểm tâm. Sau đó đi thăm hệ thống nước tưới hoa màu đã làm từ Đồng Nai đến Long Thành. Chúng tôi được giới thiệu một người làm nghề buôn trái cây mua từ các vườn đem ra chợ bán sỉ. Anh là cháu của anh Lộc, người đảm trách việc xây hệ thống nước hoa màu cho H&T và MTNCĐ. Người buôn bán trái cây kể lại rằng trong những chuyến đi mua trái cây, có những khu đất rộng mênh mông nhưng cằn cỗi vì thiếu nước, không canh tác nên không có hoa màu thu hoạch. Tuy anh ta gặp khó khăn trong việc tìm mua trái cây ra chợ bán, nhưng anh lại thấy đời sống khó khăn gấp bội của các gia đình phải bỏ những cánh đồng hoa màu thành hoan tàn, phủ bởi mà. Hệ thống nước tưới quan trọng vô cùng cho sự sống người dân làm vườn, giếng nước cần được khoảng sâu, để tìm mạch nước mạnh có khả năng tưới cây suốt mùa hè. Chính vì vậy mà MTNCĐ quan tâm đến những gia đình nghèo, có đất nhưng không thể trồng trọt, giúp hệ thống nước tưới hoa màu là tạo điều kiện sinh sống cho bà con và hạnh phúc cho từng gia đình. Người dân không có phương tiện trồng trọt, họ phải ra thành phố lớn kiếm việc làm. Khi sống xa gia đình, nhiều người cha, anh lớn thường gặp nạn theo bạn bè, rượu chè, cờ bạc, quan hệ người khác giới không suy nghĩ …., quên luôn cả mẹ già, và vợ con đang chờ đợi …

Trời rất nắng, cái nóng mùa Xuân cũng đủ làm rát cả da thịt. Chúng tôi đi thăm được một số hệ thống nước đã làm nằm cạnh đại lộ, không thể đi sâu hơn vì thời gian và cơn nắng khắc nghiệt. Chứng kiến những vòi nước lấy lên từ lòng đất, vung vãi lên những cánh đồng bắp, đậu, dưa … và cỏ cây làm cho mọi người hạnh phúc. Nước là một cái gì đó thật mầu nhiệm, đến từ lòng đất rồi đi vào hoa lá, nuôi dưỡng và cho ta những cây trái thơm ngon.

Nước từ nguồn suối cao
Nước từ lòng đất xâu
Nước mầu nhiệm tuôn chảy
Ơn nước luôn tràn đầy ….

Tôn Nữ Diệu Liên – 2012

Trở Lại Đầu Trang

Thăm xứ Ấn

Sau khi hoàn tất một số công việc từ thiện ở Biển Hồ, tôi giã từ Cam-Pu-Chia để chuẩn bị vào Ấn Độ. Vừa rời phi trường chuyển tiếp Thái Lan được một ngày thì phi trường bị đoàn biểu tình làm tê liệt. May quá, nếu không có lẽ tôi sẽ phải ở lại đây một thời gian thật lâu. Lần đầu tiên đến chiêm bái xứ Phật, không một người quen, tôi may mắn được thầy Tánh Tuệ và sư cô Liên Thật ra đón tận phi trường. Vùng nầy thuộc tỉnh Gaya , nơi có những thánh tích Phật giáo như Bồ Đề Đạo Tràng, Khổ Hạnh Lâm, sông Ni Liên Thuyền …. Mục đích của chuyến đi nầy là xem lại những công việc từ thiện của “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” đã làm trong những năm qua, tìm hiểu để làm thêm những công việc mới, mong giúp một chút cho Đạo và chia xẻ khó khăn với những người dân giai cấp cùng đinh.

Có lẽ vì là vùng đất Thánh, nên mọi kế hoạch từ thiện của tôi tại đây đã biến thành các Phật sự mầu nhiệm. Việc đầu tiên là tôi quyết định không ở khách sạn, xin về lưu trú tại một ngôi chùa Việt Nam có thời khóa tu học: tụng kinh lúc 4 giờ sáng, 5 giờ nghe thuyết pháp và 6 giờ ăn điểm tâm. Chùa đang xây dựng nên chưa có phòng cho Phật tử vãng lai. Chùa được dựng tạm lên bằng những tấm tolle, vách hở nên gió và bụi bay vào, nằm bên cạnh đồng ruộng nên có nhiều chuột. Những con mèo hoang trong làng vào chùa rượt chuột chạy rầm rầm cả đêm. Mặc dù là tuổi chuột nhưng tôi rất sợ Chuột. Ngày đầu khi về phòng, tôi co chân ngồi trên giường và bỏ mùng xuống để các “cô”, “chú” ham rượt nhau không tông vào tôi. Những lúc như vậy thì tôi trì chú Đại Bi, khi tâm dịu xuống thì tôi ngồi yên theo dõi hơi thở. Tôi quán tưởng hình ảnh ngày xưa thái tử Tất Đạt Đa rời bỏ cung điện vào rừng lang thang một mình, sống hòa đồng với thú dữ, chịu cảnh màn trời chiếu đất, rừng sâu nước độc. Hình ảnh con đường tìm đạo 2.500 năm về trước của đức Phật với nhiều chông gai và thử thách giúp tôi vượt qua được khổ thọ khi phải sống chung với mấy chú Chuột trong chùa. Và hình như các Chú các Cô cũng cảm được cái “oán tắng hội khổ” nên chỉ ba ngày sau, các chú mèo và chuột, rút hết ra khỏi phòng, qua tạm cư ở những căn nhà kho không có người xử dụng.

Tôi còn nhớ vào năm 1997, cũng nhờ quán tưởng cuộc đời tu hành của vua Trần Nhân Tông mà tôi đã leo lên được đỉnh núi Yên Tử. Lúc đó đường lên núi chưa có dây cáp, chồng tôi và tôi được Ni sư Như Minh cho đi tham quan núi Yên Tử. Khi leo lên giữa núi, nhìn thấy bên trái vách núi cao chọc trời, bên phải thì vực sâu thăm thẳm. Tôi tự trách mình sao lại tìm đến những nơi nguy hiểm, lỡ trượt chân mất mạng thì thật là khờ khạo biết bao. Để trấn an tâm sợ hãi và những suy nghĩ dại dột, tôi mang hình ảnh vua Trần Nhân Tông ngày xưa một mình lên núi ra để giúp tôi có thêm năng lực tiếp tục lên đường.  Khi tôi bước trên rễ lớn của những cây thông bắt ngang làm thành bậc đi lên, tôi nghe kể lại rằng, những hàng Thông nầy là do Vua Trần Nhân Tông trồng trong thời gian ở đây, tôi bắt đầu bước những bước chân vững chãi hơn, ý thức rõ con đường với những kỷ niệm của người xưa để lại. Những bước chân của tôi hôm nay có lẽ đã dẫm lên những bước chân của Ngài hơn 700 năm về trước.  Bao nỗi sợ hãi trong lòng tan biến, tôi không còn bị ảnh hưởng của địa thế núi rừng hiểm trở, mà chỉ còn lại ý thức của mỗi bước chân đi và hình ảnh tuyệt vời của một lão tăng, đầy dũng khí.

Trở lại câu chuyện Xứ Phật, sau khi được thoải mái vì không phải sống chung với các chú Chuột, tôi đối đầu với thức ăn khó nuốt. Thức ăn khô trong chùa được quý Phật tử Việt Nam cúng dường mang theo trong các chuyến hành hương. Nhiều lần họ đem được vào Ấn Độ rồi nhờ người chuyển về chùa, vì vậy có những thức ăn khô 2 năm sau mới đến được chùa. Những gói mì ăn liền bị bể vụn do di chuyển qua nhiều nơi, những lần vo gạo và nếp tôi thấy nhiều hạt nổi lên vì mọt ăn rỗng ruột. Ngôi chùa nầy thuộc hệ phái Khất sĩ, nên mỗi ngày chỉ ăn hai bữa: sáng và trưa, trước giờ ngọ. Khi món ăn được lập đi lập lại mỗi ngày làm tôi bắt đầu khó nuốt, nhưng nghĩ đến sức khỏe và thời tiết khắc nghiệt mùa Đông xứ Ấn, tôi phải nghĩ ra cách đưa thức ăn vào cơ thể. Bài pháp ăn trong chánh niệm của Sư ông Làng Mai đến ngay với tôi để cứu vãn tình huống. Tôi nhớ lại, trong khóa tu mùa Đông năm 1993, trong giờ ăn sáng Sư ông dạy mọi người nhai mẩu bánh mì ít nhất là 50 lần và chỉ nhai bánh mì thôi, vào giờ trưa Sư ông lại nhắc nhở rằng mỗi miếng thức ăn đưa vào miệng chúng ta nhai ít nhất là 80 lần, chúng ta đếm từng lần nhai với ý thức rõ ràng, nương theo hơi thở nương theo số đếm, và chỉ nhai thức ăn mà thôi, không nhai bất cứ cái gì khác. Khi cắn phải miếng đậu que thì ta biết ta đang cắn miếng đậu que, không cắn những nỗi buồn, cơn giận, những dự án ... Nhớ lại những lời sư ông dạy tôi đã nhai từng lát bột mì hấp và ý thức là mình đang nhai lát bánh mì hấp cho đến lúc bánh mì dẻo ra thành nước hòa lẫn với nước bọt mới nuốt xuống, không nhai miếng bánh mì dở hay ngon. Sau lần thành công nhai được thức ăn trên 80 lần và nếm được hương vị ngọt lịm của miếng bánh mì hấp mà đáng ra rất nhạt nhẽo; tôi đã tin cách ăn trong chánh niệm, giờ ăn lúc đó không còn khó chịu nữa mà là giây phút thú vị của sự thực tập thiền quán.

Hàng ngày, sau giờ ăn sáng tôi cùng thầy Tánh Tuệ và sư cô Liên Thật vào các làng nghèo để kiểm tra lại các công tác từ thiện đã làm, và tiếp tục làm thêm những công việc mới, tôi học hỏi được nhiều từ chư Tăng Ni về kinh nghiệm từ thiện trên đất Ấn. Tôi trở về trước 11 giờ trưa để kịp dùng cơm, rồi đến giờ nghĩ và xế chiều tôi và chị Diệu Thuận đi bộ ra Bồ Đề Đạo Tràng hay các chùa Việt Nam lân cận để tụng kinh chiều, ngôi chùa tôi tạm trú đi bộ đến Bồ Đề Đạo Tràng mất khoảng 20 phút.

Đức Phật Chưa Từng Nhập Diệt

Những sợi nắng thưa dần nhường chỗ cho bóng chiều buông xuống, tôi đi vào bên trong Bồ Đề Đạo Tràng (BĐĐT) hoà nhập với tăng đoàn tu sĩ và cư sĩ từ nhiều quốc gia quy tụ về đây. Đúng là thế giới Cực Lạc. Tôi bước những bước chân chậm rãi trong chánh niệm, tìm được sự an lạc trong mỗi bước chân đi, nhịp thở điều hoà làm nở hoa dưới gót chân tôi bước, lòng tôi tràn ngập niềm hạnh phúc khó tả. Thoáng nhẹ trong không gian thênh thang tôi như thấy linh ảnh Đức Phật đang đứng ở dưới gốc cây Bồ Đề cuối bức tường, Ngài với nụ cười nhẹ và đôi mắt từ bi nhìn tôi khích lệ. Đó không phải là mơ, không phải là sự tưởng tượng, mà là một cái cảm thọ của sự tiếp xúc chân thật phát khởi từ tâm thể trong sáng. Không phải một lần mà xảy ra vài lần trong thời gian tôi tu tập tại BĐĐT. Chỉ có những lúc tôi có sự an lạc trọn vẹn và tỉnh thức tròn đầy thì tôi mới tiếp xúc được cảm nhận mầu nhiệm đó. Tôi tin chắc rằng “Đức Phật Chưa Từng Nhập Diệt”, Pháp Thân ngài tỏa sáng khắp mọi nơi, trong bước chân tĩnh lặng tôi thấy rõ tâm thể của một người tỉnh thức; tôi đã nói câu này nhiều lần với chồng tôi trong thời gian tôi sống tại đây. Đức Thế Tôn muốn những đứa con Ngài tự thắp đuốc lên mà đi nên Ngài đã thị hiện Niết Bàn, ngài mãi mãi ở khắp nơi, ngài chưa từng rời xa cội Bồ Đề, chưa từng rời xa Khổ Hạnh Lâm, chưa từng rời xa dòng sông Ni Liên Thuyền. Chỉ cần chúng ta có sự tỉnh thức trọn vẹn thì chúng ta có thể tiếp xúc được với Ngài ngay trong từng bước chân.

Bồ Đề Đạo Tràng

BĐĐT mở cửa từ 4 sáng đến 9 giờ tối, lúc nào cũng tấp nập khách hành hương và tín đồ Phật giáo. Có rất nhiều tu sĩ Tây Tạng về đây tu học, những chiếc áo màu hỏa hoàng của quý sư chiếm đến 80% bên ngoài và trong BĐĐT. Các thánh tích Phật giáo tại vùng Gaya thường có những ngôi chùa Tây Tạng xây bên cạnh, những vị tu sĩ Tây Tạng sống trong các chùa nầy vừa chuyên hành trì, vừa lo chăm sóc thánh tích. Phật giáo Ấn Độ nếu không có hình bóng và sự đóng góp của Phật giáo Tây Tạng thì e rằng sẽ rất nghèo nàn và buồn tẻ. Trong cái khổ nạn mà Phật Giáo Tây Tạng phải gánh chịu trong 50 năm qua, lại sinh ra được cái huy hoàng của nó, đó là sự chấn hưng và phát triển Phật Giáo trên đất nước Ấn vốn đã tàn rụi từ lâu.

Vào những tháng mùa Đông, khí trời chuyển lạnh đẩy lui sức nóng khắc nghiệt, hàng đoàn tu sĩ tụ về BĐĐT để hạ thủ công phu. Hàng ngày có hàng ngàn khách hành hương có mặt bên trong BĐĐT. Trong số đó có khoảng 300 đến 400 người được gọi là tu học thường trú, tu sĩ Tây Tạng chiếm đến 90%, thời khóa mỗi ngày từ 5 giờ sáng đến 9 giờ tối, kéo dài từ 1 đến 3 tháng. Mỗi người chọn cho mình một pháp môn tu: trì chú, trì kinh, lễ lạy, thanh tịnh thân và tâm (purify body and mind), thiền định…. Ví như trăm dòng sông cùng đổ về biển cả, hàng trăm người an tĩnh hết lòng thực hành pháp môn của mình, năng lượng tu học hòa điệu trong không gian, không còn một sự ngăn ngại nào ngoài sự thanh tịnh tỏa rộng, thấm vào từng tế bào của cỏ cây, đất đá và hành giả. 

Để tỏ lòng hỗ trợ sự tu trì của quý thầy, cô và đại chúng, thầy Thích Tánh Tuệ, sư cô Liên Thật và “MTNCD” đã cúng dường tịnh tài đến 375 vị tu sĩ thường trú. Trước giờ cúng dường, chúng tôi đứng trước linh tượng Quán Thế Âm Bồ Tát cầu nguyện, niệm chú Đại Bi, tụng kinh Phổ Môn. Vì có một quá trình vào ra BĐĐT mỗi ngày nên thầy Tánh Tuệ biết vị tu sĩ nào là tu sĩ thường trú để cúng dường. Tôi lễ lạy một cách thành kính từng vị trước khi dâng phong bì cúng dường. Thầy Tánh Tuệ đi theo hướng dẫn để tôi không bị sót vị nào. Hai chân tôi có lúc không còn có thể đứng lên lạy xuống, tôi quay về theo dõi hơi thở, đưa hơi thở vào ra trong mỗi hành động, khi hơi thở và hành động được hoà hợp với nhau thì tôi chỉ còn một việc là nhiếp hết tâm ý cúng dường, và nhờ vậy mà tôi đã tìm được sự bình an và tập trung cho đến lúc cúng dường vị tu sĩ cuối cùng. Dù chỉ lễ lạy trong 4 tiếng đồng hồ, vậy mà hai ngày liền cơ bắp đau nhức, từ đó tôi mới tâm phục khẩu phục công năng hành trì pháp môn “thanh tịnh thân tâm” của quý thầy Tây Tạng. Mỗi ngày quý sư đã lễ lạy khoảng 2500 lần từ 1 đến 3 tháng. Có một điều kỳ lạ là chẳng ăn uống bồi bổ mà quý sư nhìn rất khoẻ mạnh và tươi vui.

Nuôi Lớn Sự Thanh Tịnh

Hàng ngàn người vào ra BĐĐT ban ngày, còn có những đạo tràng từ các nước Á Châu, phần lớn Thái Lan, về đây đăng ký với văn phòng BĐĐT để ở lại tu từ 9 giờ tối đến sáng hôm sau, gọi là trưởng tịnh (nuôi lớn sự thanh tịnh). Cá nhân cũng có thể đăng ký với văn phòng, đóng lệ phí 100 rupees để tu trưởng tịnh. Không khí thanh tịnh về đêm tại BĐĐT hoàn toàn khác với ban ngày, những người còn lại sau 9 giờ đêm là những người thật sự muốn tìm đến một sự im lặng tuyệt đối. Mỗi hành giả hành trì pháp môn riêng của mình, chọn một nơi thích hợp và nhất tâm hành trì.

Trước khi lên đường đi Ấn Độ, tôi đã sắp xếp một chương trình dày đặc để mong được thực hiện và học hỏi. Vả lại, trên 15 năm qua chúng ta đã có một quá trình ủng hộ chư tăng tu học ở các tu viện Tây Tạng, nên tôi muốn biết thực trạng của vấn đề để mong điều chỉnh cho thích hợp. Nhưng rồi, như tôi đã nói, tôi đã thật sự tiếp xúc với năng lượng an lạc của tự thân. Những ngày ở đây trở thành những giây phút yên tĩnh lạ thường, từ những bước chân thiền hành qua những khu đất nghèo văng vẳng tiếng kinh chiều của các chùa Tây Tạng cho đến những đêm thanh tịnh tọa thiền, tất cả dâng lên một khúc nhạc trầm lắng và đầy yêu thương, làm cho người qua đây không còn nhất thiết phải làm chi khác nửa.  Tôi quyết định dành thời gian để trở về với chính mình, tôi khao khát được tu, và được làm việc từ thiện trong tinh thần chánh niệm.

Vị sư phụ ngôi chùa Việt Nam, nơi tôi xin tá túc, có Phật sự đi xa, nên từ đó mỗi ngày tôi vào BĐĐT lúc 6 giờ chiều, ngồi nhìn mọi người qua lại, hay cùng các bạn đạo chia xẻ những mẩu chuyện, rồi xế tối tôi vào điện chính lễ lạy đức Bổn Sư, tụng kinh Phổ Môn và niệm chú Đại Bi. Chị Diệu Thuận kể lại rằng khi tôi nhiếp tâm tụng kinh thành tiếng rặt giọng Huế thì các sư Tây Tạng chung quanh ngưng tụng, họ nhìn tôi rồi nhìn nhau mỉm cười. Sau 9 giờ tối tôi dựng lều ngồi thiền, và bắt đầu tĩnh tọa, đến gần nữa đêm, rồi đi thiền hành đến lúc bước chân tôi đưa tôi về lều nghỉ ngơi. Thời gian vô tận và không gian thênh thang luôn có mặt nơi đây, không có việc gì cần làm, không có mục đích cần đạt, không cần rong ruổi với thời gian. Tôi đã mở tung ra được nhiều sợi dây ràng buộc trong thời gian ngắn ngủi này mà hương hoa của sự vắng lặng đó vẫn còn ảnh hưởng trong cuộc sống hàng ngày của tôi cho đến hôm nay.

Cái lều của tôi được dựng chơ vơ ngoài trời ngay bên lề đường, khí trời về đêm xứ Ấn lạnh lắm, sương rơi thấm ướt tấm khăn tôi trải che gió trên đỉnh lều, khí lạnh từ lớp đá hoa cương dưới nền tỏa ra được làm ấm lại bằng một tấm chăn mỏng. Lều được thiết kế tránh muỗi, dành cho ngồi thiền chứ không phải để nằm, nhưng cũng may là tôi nhỏ xíu, nằm co lại như mình đang nằm trong bào thai mẹ trước khi ra đời, tôi hạnh phúc mỉm cười từ từ đi vào giấc ngủ một cách dễ dàng, thỉnh thoảng tôi nghe tiếng những con chó hoang rượt và cắn nhau trong đêm tối. Tờ mờ sáng lúc chưa nhìn rõ được mặt nhau, những bước chân đi mạnh mẽ, những tiếng niệm chú xì xào từ các sư Tây Tạng vào BĐĐT lúc 4 giờ sáng mở đầu cho một ngày mới tu tập, đánh thức tôi dậy. Tôi lấy chăn đắp lên người, ngồi yên trong lều, theo dõi hơi thở và “thiền quan sát” sinh hoạt buổi sáng tại BĐĐT.

Thức dậy mỉm miệng cười
Hai bốn giờ tinh khôi
Xin nguyện sống trọn vẹn
Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời

Năm giờ sáng, sương còn rơi và khí trời se se lạnh, vậy mà tiếng chân người mỗi lúc một rộn ràng hơn, số người thưa thớt ban đầu dần dần trở thành từng đoàn nối chân nhau tìm đến địa điểm hành trì mỗi ngày của mình. Mặt trời từ từ hé dạng, vén nhẹ màn sương khuya, đem hơi ấm ôm ấp lên muôn vật, tôi bước ra khỏi lều và xếp gọn hành trang chuẩn bị đi ăn điểm tâm. Tại khuôn viên trước BĐĐT, dù người sang hay kẻ hèn thì cũng chỉ có hai món để điểm tâm đó là trà sữa và bánh bột mì hay bột chapatti (lúa mì). Mỗi ly trà sữa là 5 ruppes, một cái bánh bột chỉ 10 rupees (0.25 usd), đây cũng là một sinh hoạt đáng nhớ, cái thế giới mà ai cũng như ai, ngồi trên thành lề đường, sưởi ấm hai tay bằng ly trà sữa nóng và lót dạ một miếng bánh mì để chuẩn bị cho một ngày sinh hoạt mới.

Cúng Dường Ba La Mật

Một buổi sáng vào mùa lễ hội Tripitaka, BĐĐT đông nghẹt người về tham dự. Đang đi thiền hành sau thời khóa trưởng tịnh, tôi dừng lại khi nghe tiếng xôn xao khác thường từ phía cổng chính của BĐĐT. Tôi thấy nhiều Phật tử nói tiếng Hoa, có lẽ là người Đài Loan, thuê những em bé người Ấn đem bánh mì và trà sữa vào cúng dường cho bất cứ người nào đang có mặt trong BĐĐT. Họ làm việc nhanh nhẹn để kịp đem đến tặng từng người như sợ người ta đi mất khỏi tầm nhìn của họ, người nhận muốn bao nhiêu thì họ tặng bấy nhiêu, không phân biệt tu sĩ hay khách hành hương, không tính toán, không kỳ thị, không phân tích, họ trao tận tay những miếng bánh mì tươi mềm và ly trà sữa nóng hổi vừa mới rót ra. Họ đến trước mặt tôi để “cúng dường”, tôi lặng yên tiếp nhận, hơi ấm từ ly trà nóng chuyền qua lòng bàn tay theo dòng nước mắt lăn dài trên đôi má, tôi nói thầm “hạnh phúc thay … hạnh phúc thay” khi thấy con người biết sống với nhau trong biển tình thương bao la.

Chó Hoang

Buổi sáng tôi chia xẻ phần điểm tâm cho vài chục con chó. Đây là những con chó hoang, không có nhà để về, không có chủ cho ăn, bãi rác là nơi các “em” tìm thức ăn và ngủ từng bầy với nhau. Rất nhiều chó hoang. Tôi và chị Diệu Thuận mua hàng chục miếng bánh mì, xé nhỏ ra và thảy cho từng em một.

Một hôm khi đi qua làng, tôi thấy một con chó con từ đằng xa, cái đuôi ve vẫy, cái mồm sủa oang oang, “em” thuộc giống Pomerine nên rất đẹp và được nuôi đàng hoàng. Tôi đến gần, ngồi xuống chơi với “em” thì con chó bỗng nhiên ngưng sủa, ngửi quanh người tôi, rồi nhảy chồm lên liếm vào tay vào mặt tôi. Tôi thương quá, ôm “em” vào lòng, và hôn lên đầu lên má “em”, chị Diệu Thuận bảo tôi: “thôi đi mau kẻo tối”. Những hôm đầu tôi nhờ chị Diệu Thuận giúp tôi cho chó ăn bánh mì chị không nhiệt tình cho lắm.

Thế rồi mỗi ngày hai chị em cùng đi tu học với nhau, và thường có những chú chó hoang theo gót chân tôi. Một hôm tôi phát hiện có một con chó màu đen, tôi đặt tên là “Mực” đã theo tôi từ lâu lắm, tận ngoài BĐĐT. Cứ mỗi góc đường Mực lại đứng chờ, tôi rẽ về hướng nào là nó quẹo về hướng đó. Thương quá! tôi nói với chị Diệu Thuận: “Lát nữa về chùa em đứng ngoài giữ nó chị vào tìm thức ăn cho nó giúp em nghe”. Chị Diệu Thuận cản: “thôi, đừng lấy thức ăn cho chó, trong chùa không thích đâu”. Ngay sau câu nói của chị Diệu Thuận, tôi thấy Mực đến trước cổng chùa rồi quây lưng đi ra lại đầu xóm. Tôi không nói gì hết, chạy nhanh vào bếp lấy mấy miếng bánh mì cũ chạy ra thì Mực đã đi mất, tôi cầm miếng bánh mì đi tới đi lui quanh xóm, tôi gọi thầm trong tâm: “Mực ơi! con đi đâu rồi? ra đây với cô đi con” nhưng mãi mãi em không trở lại. Tôi về kể lại cho chị Diệu Thuận nghe và tỏ lòng xót xa. Từ hôm đó chị Diệu Thuận không còn ngăn cản tôi “thương chó”, chị đã phụ tôi xé bánh mì và ném ra cho từng con một. Tôi rất vui vì có lần các “em” đến đông quá, chị bảo tôi mua thêm ít miếng nữa vì còn một số “em” ăn chưa no.

Hôm nay ghi lại đây một vài kỷ niệm của những ngày hạnh phúc bên Bồ Đề Đạo Tràng như một sự chia xẻ nồng ấm với mọi người. Nhân mùa Phật đản Phật lịch 2553, xin dâng một đóa tâm hương với tất cả lòng thành kính lên đức Thế Tôn. Nguyện cầu cho chúng ta có đủ hùng lực để cùng nhau vững tiến trên con đường giác ngộ. Kính chúc các bật tôn túc, cùng chư tăng ni vô lượng an lành.

Tâm Tịnh An - Tôn Nữ Diệu Liên

MỘT CHIẾC DÉP

Câu chuyện “hai vợ chồng mang một chiếc dép” làm tôi nhíu mày suy nghĩ. Có nghĩa là sao? Thầy giáo Trần Đình Phúc đứng nhìn tôi cười tủm tỉm rồi nói: “ngày mai trên đường đi thăm nhà cô giáo Xí, em sẽ đưa chị vào thăm vợ chồng anh Định”. Cô Xí là người đang chăm sóc 5 người chị ruột mang bệnh tâm thần,

Nếu quý vị biết cái tên nầy do ai đặt thì quý vị sẽ thấy thích thú hơn. Nguyên là có một ngưòi ngoại quốc đi qua huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam. Ông ta thấy một cặp vợ chồng, người chồng thì mù hai mắt và còn một cái chân, chị vợ thì sáng hai mắt nhưng đã cụt hai chân. Ông ta thấy hai vợ chồng cùng nhau đi bán quạt giấy và tăm xỉa răng. Ông chồng nhờ đôi mắt của bà vợ, và bà vợ nhờ một cái chân và một cái nạn gỗ của ông chồng, họ nương nhau để sống. Ông ta đã chụp hình anh Định đang đi bán hàng. Thế rồi năm 2008 ông lại về Việt Nam, đến một tổ chức từ thiện tại Huế, đưa tấm hình ra và nhờ trao lại cho hai vợ chồng nầy một số tiền.

Khi nhận được số tiền nầy, các anh em tại Huế nhờ thầy Phúc, vốn đang sống tại Quảng Nam, đến Duy Xuyên tìm người trao lại tiền. Thầy giáo Phúc đã mất gần một ngày trời chạy khắp vùng Duy Xuyên, đưa tấm hình ra hỏi mọi người, và cuối cùng đã tìm ra vợ chồng anh chị Phạm Văn Định, đúng như lời ông “Tây” diễn tả là “hai vợ chồng mang một chiếc dép”.

Hôm nay trong chuyến công tác từ thiện tại Quảng Nam, trên đường đi thăm chương trình khuyết tật, bệnh hiểm nghèo, và người già neo đơn, tôi cùng Phúc và anh Sang đi vào hẻm đến nhà anh Định. Vợ chồng anh Định sống trong một căn nhà tình thương, do một tổ chức từ thiện tặng, nhà được xây trên miến đất cao ráo, sạch sẽ và thoáng mát. Từ dưới chân đồi, tôi đã thấy anh Định đang ngồi chẻ lạt đan quạt một cách chăm chú trước hiên nhà. Nghe tiếng Phúc chào, anh Định nhận ra giọng người quen, đã mở nụ cười thật tươi và mời chúng tôi lên nhà trên đồi. Tôi có nhiều cảm tình với anh Định qua khuôn mặt vui tươi và hình ảnh cần cù trong công việc của anh. Nhìn vào căn nhà để tìm chị Định, không thấy chị mà chỉ thấy toàn tre và lạt nằm ngổn ngang khắp nơi. Anh Định chuẩn bị lết vô nhà bằng hai tay rồi nói “vợ tui đi ra chợ gần đây chút xíu về liền, xin mời các anh chị vào nhà uống nước”.

Tôi và anh Sang từ chối lời mời, hai anh em ngồi xuống trò chuyện chơi với anh Định ngay trước hiên nhà. Nghe là mời nước nhưng trong nhà không thấy ly tách, chẳng thấy bình trà, ngay cả cái giường để ngủ, cái ghế để ngồi cũng không có, nếu lấy hết tre và lạt đi thì đây là một căn nhà rỗng tuyếch. Anh Định cho biết anh chị không có thân nhân từ tấm bé, cùng nhau lớn lên trong trại mồ côi. Khi đến tuổi trưởng thành anh chị gặp nhau rồi thương nhau và đưa nhau ra khỏi trại mồ côi để xin ăn kiếm sống tại thành phố Đà Nẳng. Khi chính sách của Đà Nẵng là không cho người hành nghề ăn xin lai vãng trong thành phố, anh chị chuyển sang nghề làm quạt giấy, mỗi cái 3.000 đồng (2 cents usd) và tăm tre, mỗi gói 1.000 đồng. Trong đời sống văn minh ngày nay đâu còn ai dùng quạt giấy, tăm tre, vậy mà anh Định cho biết vẫn có người mua hàng của anh. Không biết mua về để làm gì, nhưng một chiếc quạt giấy 3.000 đồng thì họ đưa cho anh 5.000 đồng hay 10.000 đồng, một gói tăm xỉa răng 1.000 đồng thì họ đưa cho anh 2.000 đồng hay 5.000 đồng. Anh chị rất thích thú và sống hạnh phúc bên nhau với cái nghề mới, cũng là có thêm tiền người đi đường cho nhưng mình không ngửa tay xin, cùng nhau làm việc, cùng nhau kiếm ra đồng tiền nuôi sống bản thân.

Tôi rất vui khi nhìn thấy nụ cười tự tin và thân mật của anh Định, niềm tin yêu trong anh đã lan toả trong lòng tôi. Dù không may khi ra đời với một thân thể không được trọn vẹn, nhưng với lòng tự trọng và bản năng sinh tồn, anh chị đã trở thành một người có cơ thể trọn vẹn hơn những người bình thường đang sống nương nhờ gia đình và xã hội. Tôi rất kính phục và đã nói nhiều lời khen ngợi anh chị. Để khích lệ và đóng góp thêm cho công việc sinh sống của anh, tôi đã xuất quỹ “tàn tật” 600,000 đồng, tặng và đề nghị với anh chị rằng, nếu được, xin dùng số tiền nầy mua những mặt hàng như: bàn chải đánh răng, lượt chải đầu, kẹp bấm móng tay, quẹt lửa bằng gas …v.v. Số tiền tôi cầm theo trong chuyến đi có giới hạn, một chút tịnh tài làm quà mọn cho lần gặp gở

Những món hàng nầy bán ra cũng chỉ vài ngàn đồng, và khách hàng cũng có thể cho thêm tiền như họ đã cho khi mua quạt, nhưng tôi nghĩ rằng những mặt hàng nầy họ có thể đem về dùng được. Những chiếc quạt và tăm tre của anh chị làm ra mất nhiều công, phải chặt đốn tre và tiêu thụ giấy xi măng làm ảnh hưởng môi trường xanh. Người ta mua về lại ít có cơ hội dùng đến. Tôi nói với anh Định là anh nên mua càng nhiều mặt hàng càng tốt, cứ mỗi loại chỉ cần 3 đến 5 cái để bán, càng nhiều mặt hàng bao nhiêu càng dễ cho người ta chọn lựa để mua và từ đó số tiền khách hàng cho thêm càng nhiều. Giảm đi thời gian làm quạt và chẻ tăm tăng giờ đi bán thì anh chị sẽ có tiền mua sắm vật dụng trong nhà.

Chúng tôi rời nhà, Anh Định với nụ cười tươi tiễn chân theo xuống chân đồi. Cuộc đời khốn khổ mà vẫn vui tươi với lẽ sống của anh Định đã dạy cho tôi bài học để biết ơn những gì mà Trời Đất đã cho tôi, từ cái có được một thân thể trọn vẹn, được sanh ra trong một gia đình có Mẹ có Cha, và nhất là được tiếp nhận giáo lý của đạo Phật để có thể thấy được tất cả sự mầu nhiệu của cuộc đời nầy, để vững tiến trên con đường tu học. Anh chị em thiện nguyện viên của chúng tôi cám ơn quý ân nhân đã tạo điều kiện cho chúng tôi tìm đến các mảnh đời bất hạnh, và cám ơn các mảnh đời bất hạnh đã cho chúng tôi bài học biết trân qúy cuộc đời.

Đầu Xuân Kỷ Sửu
Tôn Nữ Diệu Liên
 

CÁ THỦY TINH

Trở về nhà sau chuyến công tác từ thiện, chị Diệp Yến Bình và Diệu Liên chia sẽ niềm vui với những thành quả mới của Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời. Chị Yến Bình có một ngôi nhà nằm ngay trung tâm du lịch Hollywood - Florida, cách bờ biển Đại Tây Dương khoảng 20 bước chân. Diệu Liên được chị đưa về đây nghĩ ngơi, tắm biển, nghe nhạc sống, xem bà con khiêu vũ và ăn uống thâu đêm trên bãi biển.

Cũng trong dịp nầy Diệu Liên thường ra tắm biển khi trời vừa hừng sáng. Thế giới nầy thật khó tìm thấy ở Canada giá buốc, luôn được phủ đều bởi một chiếc mền bông bằng tuyết trắng. Hôm đó, một đều kỳ lạ xẫy ra, khi chuẩn bị bước xuống nước, Diệu Liên thấy hàng vạn chú cá con đang chơi đùa ngay sát bãi biển. Các chú cá nầy được sanh ra cùng một lứa, nên cùng một kích, nhỏ xíu bằng ngón tay trỏ. Hàng vạn con mà chỉ có hai màu: vàng mơ, xanh dương, trong suốt như “Thủy Tinh”. Hướng dẫn đàn cá nầy là vài cô chú “cá Cha, cá Mẹ”, lớn bằng bắp tay, màu xanh dương đậm và màu đen trắng.

Diệu Liên thấy các em đang chơi, không dám “động” đến, nên đứng trên bờ quan sát. Nhưng chờ hoài mà các em vẫn mãi mê nô đùa, không biết sợ “người” là gì. Thấy vậy, Diệu Liên đành bước xuống nước vừa đi vừa nói: “ xin lổi em bé nghe, cô phải bơi, và còn phải đi làm việc nữa, hết giờ rồi em bé ơi!”. Rồi Diệu Liên tách làn nước và bơi dọc theo bờ biển. Lạ lùng thay, khi nhìn xuống nước, hàng vạn em bé “cá” đang bơi lượn bên dười, làm thành một chiếc giường bằng “cá” mà Diệu Liên đang được nằm trên đó. Lúc đầu, tâm trạng kinh ngạc đến với Diệu Liên rồi chuyển sang sung sướng và hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc đang có. Giờ phút tuyệt vời đó sẽ mất đi rất nhanh khi đàn cá di chuyển qua vùng nước Diệu Liên đang bơi. Nhưng thật lạ thay, các em vẫn bơi theo Diệu Liên, tung tăng, lí lắc, với tràn đầy hạnh phúc. Rồi nữa, thỉnh thoảng, những cô chú cá Mẹ cá Cha lại phóng lên khỏi mặt nước, làm thành cầu vồng, như đang khiêu vũ biểu diễn cho “cả làng” cùng xem.

Thật là một hiện tượng lạ lùng, khó nói được bằng lời, Diệu Liên như nín thở, không muốn giây phút thần tiên đó biến mất. Diệu Liên hỏi các em: “con là ai, từ đâu đến và đang đi về đâu, sao lại đi theo cô vậy nè? Có quen với cô không? biết nhau từ kiếp nào đây hè?, thương ơi là thương phải không các con?”.

Trong khoảng khắc, chợt nhớ đến tin tức cái chết do chất độc từ đuôi cá Đuối chích vào ngực của hai nạn nhân đang bơi trên bờ biển Florida. Câu hỏi đến ngay trong Diệu Liên: Không biết các chú bé “cá” tí hon nầy da có độc không đây?.  Rồi cũng trong khoảng khắc đó, Diệu Liên “tự trách” mình: các em đến với mình vui vẻ và ấm áp vậy sao mình lại nghĩ xấu đến các em, mình thật không dể thương chút nào”.

Bao nhiêu hạnh phúc tràn ngập khi được nằm trên chiếc giường bằng những cô chú “cá” Thủy Tinh, nhưng Diệu Liên cũng không quên “cảnh cáo” các em: “nè, các con ơi!, loài người có nhiều kẻ không dể thương như mình nghĩ đâu nghen, tại sao lại không sợ người mà đi theo như vậy, không phải thấy ai rồi cũng đi theo đâu nghe, nguy hiểm lắm, có biết không?”. Bầu trời xanh lên cao, nước bạc ngàn trong mát, ai lo ai sợ mặc ai, các chú bé “cá” cỏn con vẫn lượt là lướt theo dòng nước, vì bên em có Mẹ có Cha đang che chở cho đàn con được an toàn.

Diệu Liên tựa người trên chiếc phao, hai chân đập nhẹ, lướt theo làn nước, đắm đuối, say mê nhìn ngắm các em. Khi chợt nhìn thấy một đám lớn các chú cá màu vàng mơ lách mình chen lấn. Màu vàng mơ, cùng màu lông của bé Lạc, cô bé “chó con” của Diệu Liên đang ở Toronto. Ôi ơi! không biết có chuyện gì xẩy ra cho em không? Tại sao bổng nhiên sáng nay lại có một đàn “bé Lạc” dưới hình hài của những chú cá chạy theo Diệu Liên vậy nè, có phải đây là hóa thân của “bé Lạc”, vẫn còn tiếp tục chạy đi tìm Diệu Liên? Diệu Liên đã trở về với hơi thở để nhận diện những ý niệm vớ vẫn khởi lên liên tục trong tư tưởng, nhận diện và không bị nó lôi cuốn để rồi mất đi những giây phút tuyệt vời hiện tại.

Cứ như thế, Diệu Liên tiếp tục nói chuyện với các em hết suốt đoạn đường. Khi Diệu Liên đến gần khách sạn màu hồng, là điểm mốc phải trở lại đi làm việc sau giờ thể dục buổi sáng. Diệu Liên nói lời giã từ với đàn cá: “các con ơi! cô về nghe, mai gặp lại không? biển trời bao la làm sao gặp lại hè? vĩnh biệt nghe”. Tiếc rẻ, Diệu Liên nhìn em lần cuối rồi trở mình bơi về.

Trở ngược về hướng căn nhà ngoài biển, làn nước mát trong, trong đến nỗi có thể đếm được những viên sỏi, những vỏ sò trắng phiêu nằm dưới lòng biển. Diệu Liên thích thú nhìn ngắm và thưởng thức sự tươi mát của những hạt sỏi, những vỏ sò đang còn ngáy ngủ khi mặt trời đã lên cao. Nhưng lạ thay, các hạt sỏi, vỏ sò bị biến mất vì đàn cá bơi ngược trở lại thành chiếc giường che lấp đáy biển. Bút mực nào có thể diễn tả được sự sửng sốt và sung sướng của Diệu Liên lúc đó. Diệu Liên luôn miệng hỏi các em đủ điều. Bao nhiêu câu hỏi nhưng sẽ không bao giờ có câu trả lời.

Các em theo Diệu Liên suốt đoạn đường về đến nhà. Lại thêm một lần chia tay. Diệu Liên ngừng bơi, đứng yên trong nước, nói lời tiển biệt: “ chào các con, gặp lại ngày mai được không?”. Hai chân của Diệu Liên đã biến thành hai cột trụ, và toàn thể những đứa con yêu quý của Diệu Liên đã tụ về. Nhỏ lớn chồng chất lên nhau, chen lấn để được đến gần hơn, không cô chú nào đụng đến người Diệu Liên, vẫn còn cách chân một lóng tay. Diệu Liên nghẹn ngào hỏi: “Sao đây? Không cho người ta về hả? bắt người ta ở lại đây hoài sao các con? Ngày mai mình gặp lại nghe? Ngày mai cô sẽ trở lại tìm các con”. Diệu Liên lội từ từ lên bãi cát, một đàn cá con từ từ đi theo, đi theo, bu quanh hai chân. Diệu Liên bước nhẹ lên đất liền rồi đi thẳng về nhà không dám quay đầu lại, nhở mà các em cất tiếng réo gọi chắc là Diệu Liên biến thành cá mà đi theo các em luôn.


Trở về căn nhà nghĩ mát, việc đầu tiên là gọi về Toronto để biết rỏ tin tức bé Lạc. Đầu dây bên kia, giọng Xuân Nhi trả lời: “nó đây nè, nằm ngay dưới chân nè”, rồi Xuân Nhi đưa telephone và bảo bé Lạc sủa vào vài tiếng. Diệu Liên nhẹ cả người, em vẫn còn đó, lần này về nhà sẽ thương bé Lạc nhiều hơn.

Sáng sớm hôm sau, đúng theo lời hứa Diệu Liên trở lại bờ biển. Hôm nay biển động, sóng nước cao, không người tắm, xa xa các du thuyền cũng đã mất dạng. Biển động rồi, các em không được Bố Mẹ đưa đi chơi lòng vòng nữa, chắc toàn biển đang ở tình trạng giới nghiêm.

Rồi sáng sớm hôm sau, lại ra biển tìm các em. Biển lặng trời yên, các chú chim Hải Âu khổng lồ sau một ngày biển động không có thức ăn, hôm nay đã bay lượn cả vùng biển để đi săn mồi. Không một chú cá nào dám bơi gần mặt biển. Ngồi nhìn đàn Hải Âu săn mồi dử dội, biết rằng cơ hội gặp lại các em không còn nữa, không phải tự nhiên mà có. Bao nhiêu Nhân Duyên phải có mặt để chúng ta, muôn loài được nhìn thấy nhau, nói lời yêu thương cho nhau, cùng nhau vui hoà trong cuộc sống.

Tôn Nữ Diệu Liên
Hollywood, Florida – 2006

Trở Lại Đầu Trang

Đường đất đỏ gồ ghề với những khu vườn Chè bạt ngàn đưa mọi người đến đạo tràng Pháp Hoa, huyện Di Linh. Chùa không xa thành phố  lắm, từ chợ Di Linh, chỉ cần đi thêm một khoảng đường là đến khúc rẽ vào chùa. Từ xa đã thấy một mái nhà lợp tôn, chung quanh bao phủ bằng những tấm bạc màu xanh nước biển. Nét đặc biệt của chùa không phải là sự xây dựng vì chùa còn rất nghèo, mà chính là hình ảnh xanh tươi trãi dài quanh chùa với những vườn cà phê và lá chè. Dù nằm gần thành phố, con đường thiền hành của đạo tràng Pháp Hoa vẫn là những con đường đất đỏ, đượm  sự mộc mạc và chân tình của người dân quê.

Cách đây mấy tháng, được lá thư của nhà báo Nguyễn Đắc Xuân, viết về sự thật của cô Tâm Hiền và vùng đất tên A Ru, Diệu Liên không kinh ngạc lắm vì đã biết một phần nào vấn đề. Diệu Liên quen cô Tâm Hiền trong lần về làm từ thiện năm 2005. Cô tâm sự nhiều về cái làng A Ru của Cô và muốn kết nghĩa chị em với Diệu Liên. Diệu Liên cũng như nhiều Phật tử khác, muốn đến tận nơi xem xét đạo tràng A Ru ngõ hầu có thể giúp đở, nhất là muốn tạo điều kiện cho những người dân tộc thiểu số có nơi sinh hoạt và tu tập đàng hoàng. Qua phim ảnh đã được gỡi đi nhiều nơi, cô Tâm Hiền đối với mọi người như một vị Bồ Tát, đang hướng dẫn một đạo tràng hàng ngàn người dân tộc thiểu số ở một nơi tên là A Ru, thuộc huyện A Lưới, nằm sát biên giới Việt Lào. 

Đã nhiều lần Diệu Liên đề nghị với Cô để được về trực tiếp thăm đạo tràng A Ru, Cô đã lấy nhiều lý do từ chối khôn khéo. Lần cuối cùng Cô từ chối khéo bằng một hình ảnh đẹp là sẽ mượn 2 chú Voi của dân làng, từ trong rừng ra đón Diệu Liên lên thăm bảng trong những tháng khô ráo. Thời gian của Diệu Liên ở Việt Nam có hạn, cuối cùng cũng phải rời Việt Nam, chưa một lần có cơ hội biết thực về một vùng đất tên A Ru. Những người bạn ở Việt Nam cũng vậy, không về thăm A Ru được vì không có người dẫn đường. Trong khoảng thời gian nầy, Diệu Liên biết một số bạn bè nhờ Diệu Liên chuyển giúp Cô chi phí xây trường học và cầu cống. Những chương trình nầy đã không được thực hiện vì trên thực tế, không hề có một nơi gọi là A Ru nằm sát biên giới Việt Lào.

Những hình ảnh đi kinh hành quanh rừng chè với tiếng niệm Phật A Di Đà của những người dân tộc thiểu số mà phần lớn chúng ta được xem là đạo tràng của chùa Pháp Hoa, thuộc huyện Di Linh, được hướng dẫn bởi hai Ni Sư Minh Hiền và Huệ Đức. Cô Tâm Hiền về đây mượn đạo tràng này để làm một đoạn phim và gọi đó là A Ru, trong phim không hề quay tên chùa, ngôi chùa và những vị tu sĩ ở chùa nầỵ Diệu Liên đã về đây thưa chuyện cùng quý Ni Sư, tìm hiểu kỷ càng, không hề có những công trình trường học và cầu cống ở đây như lời kêu gọi của Cô

Những ngày trước Tết Đinh Hợi, Diệu Liên và Minh ghé về thăm anh Nguyễn Đắc Xuân. Anh đang bị bệnh, dù vậy cũng vui vẻ tiếp đón hai em, hàn huyên tâm sự nỗi lòng. Khi nhắc đến chuyện A Ru, thay vì lo lắng sẽ có nhiều hội đoàn, nhất là các chùa ở hải ngoại, tiếp tục giúp đở những chương trình của cô Tâm Hiền mà không rõ sự thật của vấn đề, mọi người quyết định sẽ ghé về thăm đạo tràng Pháp Hoa ở Di Linh. Sẽ đích thân phát quà và tìm hiểu thêm về những chương trình ở đây, qua đó, giới thiệu đến mọi người một đạo tràng thật sự mà đã được gỡi đến khắp nơi qua tên A Ru. Đây là cuộc hành trình thiết thực, hầu mong có thể cống hiến đến mọi người về một nơi tu hành thanh tịnh của người dân tộc thiểu số, Ở đó, những người dẫn dắt là những vị Bồ Tát đáng kính.

Vừa xong ba ngày Tết, Diệu Liên và Minh thuê xe lên đường vào Nam để chuẩn bị bay về Canada. Nhân đó ghé về Di Linh thăm đạo tràng Pháp Hoa như dự định. Anh Xuân vì bệnh tình không đi được, gởi tấm lòng theo với cuộc hành trình. Dù số tiền từ thiện còn lại của Diệu Liên quá ít ỏi so với số người ở đạo tràng Pháp Hoa, nhưng không biết làm sao hơn vì những số tiền khác đã chi dụng cho những chương trình có dự án.

Diệu Liên gọi vào Pháp Hoa, được gặp hai ni sư Minh Hiền và Huệ Đức. Quý Ni Sư hoan hỷ giúp Diệu Liên mua sắm những phần quà ở địa phương, Diệu Liên không cần đem theo gì ngoài số tịnh tài đã báo trước.

Trời Di Linh vào buổi trưa thật nắng, Xe dừng lại bên chùa, ni sư Minh Hiền ra chào hỏi và mời mọi người vào bên trong. Ở đây, một đạo tràng đông đúc những người dân tộc thiểu số đã đứng sẵn, chấp tay đón khách trong sự yên lặng thật dễ thương. Chúng tôi chắp tay cúi đầu đáp lễ. Dù đã được ni sư Minh Hiền báo trước sẽ không có nhiều Phật tử cũng như các em vì chúng tôi đến thăm vào ngày thứ sáu, mọi người còn bận rộn và các em thì đến trường; vậy mà nhìn số người trong chánh điện cũng làm chúng tôi cảm động vô cùng. Chúng tôi thấy bên cạnh những em bé và người già, còn có những phụ nữ cùi con bên hông đến chùa lễ Phật, họ ngồi thật yên lặng, đôi mắt xem xét những người khách từ xa mới đến.

Chùa Pháp Hoa, thuộc huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, nằm gần chợ Di Linh,.  Chùa có một chánh điện nhỏ với tượng đức Bổn Sư. Phía trước chánh điện là một cái rạp đủ chổ cho vài trăm Phật tử ngồi tụng kinh và thọ thực, có bàn thờ nhỏ với tượng Phật đồng, trần nhà bằng mái tôn, vách bằng những hàng rào lưới B40, bọc quanh là những tấm bạc màu xanh che mưa nắng, Đường đất đỏ gồ ghề phía trước với những khu vườn Chè và Cà Phê bạt ngàn hai bên

Sau những lời chào hỏi ân cần, sư Minh Hiền hướng dẫn đạo tràng bằng những lời tụng kinh và cầu nguyện cho bữa cơm trưa. Các Phật tử người dân tộc theo lời hướng dẫn, tụng kinh và mật nguyện trước khi dùng cơm một cách rành rẽ và thanh tịnh. Buổi trưa của họ là cơm trắng và mì gói, 4 người mới được một gói mì ăn liền. Họ ăn ngon lành và yên lặng.

Sau khi dùng cơm xong, Ni Sư Minh Hiền thỉnh chuông cho đạo tràng chuẩn bị đi kinh hành. Các em nhỏ được đứng trước với những chiếc mõ và chiếc khánh trên tay. Ngày xưa, những chiếc mõ của các em chỉ là những cái gáo Dừa khô, các em được đi kinh hành quanh vườn Chè bằng tiếng gõ của vỏ Dừa, mộc mạc và dễ thương. Hôm nay các em đã được các chùa tặng những chiếc mõ nhỏ, âm thanh hòa nhịp rất thanh tịnh. Vì được sự hướng dẫn thuần thục của các Ni sư, các em và cả đạo tràng đi kinh hành quanh điện Phật rất nhịp điệu. Những bước chân của các em như có mang theo âm nhạc, hòa điệu với câu niệm Phật A Di Đà. 

Sau khi đi kinh hành xong, Ni Sư mời mọi người tập trung lại để được phát quà. Quà đặt vào một góc rạp, mỗi người sẽ được 10 kg gạo, 4 gói bột ngọt, 2 gói muối, 2 gói đường, 2 chai xì dầu, 1 thùng mì gói, bánh kẹo cho các em và 10,000 đồng. Khác với những nơi Diệu Liên đã phát quà trước đây, đạo tràng Pháp Hoa rất yên tĩnh, người được phát quà tập trung về rất hiền lành, không chen lấn. Họ từ tốn đứng vào hàng và từ tốn đến nhận quà một cách chân thật. Đó là nét quý giá mà Diệu Liên tìm thấy ở đây, sự nghèo khó mà có  tu tập vẫn tạo được những nét đặc thù của nó.

Trong buổi gặp gở đầu tiên, hai Ni sư với khuôn mặt mộc mạc và nụ cười niềm nở của người tu sĩ miền núi, đã cho Diệu Liên một cảm giác gần gủi như từng là đệ tử của chùa từ lâu. Ni sư Minh Hiền quê ở Tiền Giang, ni sư Huệ Đức quê ở Bạc Liêu; hai sư cùng độ tuổi gần 70. Quý Sư về đây từ năm 1970, lập chùa Pháp Hoa để cùng nhau tu tập và rồi do nhân duyên, đã cảm hoá được đồng bào dân tộc ở đây, ngôi chùa 2 chị em ẩn tu bây giờ đã có đến hàng trăm người đồng tu học.

Hai ni sư đã nhiệt tình trả lời những câu hỏi của Diệu Liên, những câu hỏi có liên hệ đến sự tu học của đạo tràng Pháp Hoa, những công tác từ thiện của chùa cũng như những khó khăn của Chùa gặp phải. Diệu Liên cũng đã thưa chuyện với quý Sư về cô Tâm Hiền và được xác nhận rõ ràng là Cô đã về đây xin phát quà, quây phim như đã nói ở trên.

Phật tử thực tập pháp môn Tịnh Độ tại đạo tràng chùa Pháp Hoa gồm có 4 bảng: bảng Klong-Trao có 82 gia đinh, bảng Di Linh Thượng có 29 gia đình, bảng Hàng Làng có 49 gia đình, và Liên Đầm có 1 gia đình. Số gia đình ở tại mỗi bảng nhiều hơn, nhưng trên đây là số gia đình đã thọ tam quy, ngũ giới và tham dự ngày thọ Bát Quan Trai mỗi tháng tại chùa. Sư cho biết ưu điểm của người dân tộc là mỗi kỳ tu học thì cả vợ chồng con cái lớn bé đều đi hết, đi tu là đi nguyên cả nhà . Tổng cộng có tất cả 161 gia đình với 292 nam và 385 nữ, trong đó có 241 học sinh từ mẫu giáo đến đại học. Có 4 em đang học ở cấp cao đẳng và đại học theo 3 ngành: Nông Lâm, Xã Hội Nhân Văn, Trung cấp Y .

Họ là người dân tộc Kho, sinh sống trong xã Gung Rê, thuộc Hàng Làng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Theo anh K’Sem, pháp danh Thiện Hải cho biết, dân tộc Kho có mặt ở đây đã lâu lắm rồi. Vào thời Pháp thuộc có hai nhà kinh doanh, một người quốc tịch Pháp và một người quốc tịch Ý, về đây khai rừng. Họ đã biến vùng đầt nầy thành đồn điền cà phê và dân làng tại đây trở thành công nhân của họ. Sau năm 1975, hai thương gia nầy bỏ về nước để đồn điền lại cho chính quyền địa phương.

Trong 3 tháng an cư Kiết Hạ, mỗi tuần Ni sư tổ chức dạy giáo lý vào ngày thứ Bảy, và thọ Bát Quan Trai vào ngày Chủ Nhật, từ 7 giờ sáng đến 3 giờ chiều. Chương trình nầy đã được nhóm cô Cúc ở thị trấn Đức Trọng cúng dường cơm trưa. Bữa cơm được chia ra làm từng mâm, mỗi mâm có 4 người, trung bình mỗi bữa ăn có từ 80 đến 100 mâm. Thức ăn quá khiêm tốn, mỗi phần từ 2000 đến 2500 vnd. (17cents US) Tổng chi phí 1,000,000 vnd ( $63 Usd ), gồm 100 kg gạo giá 500,000 vnd, và 500,000 vnd còn lại là tiền thức ăn cho 400 Phật tử. Sở dĩ chi phí cho thức ăn quá thấp là vì nhóm cô Cúc đã xin rau trái từ các bạn hàng ngoài chợ.

Sư còn cho biết trong một năm có hai tháng 11 và 12, toàn bộ đồng bào ở đây sẽ tập trung vào việc đi hái cà phê thuê cho người ta, thời gian nầy không về chùa tu tập.

Dù biết rõ chính xác đạo tràng Pháp Hoa ở Di Linh là hình ảnh chân thật đã được dựng trong phim của cô Tâm Hiền qua lời tâm sự của hai cô Minh Hiền và Huệ Đức, Diệu Liên và Minh vẫn tiếp tục tìm hiểu thêm về những công trình của cô Tâm Hiền  ở đây, để đối chiếu với những sự giúp đở của bạn bè trong thời gian qua, cũng như tìm hiểu thêm cuộc sống của người dân tộc thiểu số, qua đó có thể làm được gì giúp đở họ.

Buổi trưa nắng cháy, hai anh Thiện Hải và Thiện Phẩm, người dân tộc, đưa chúng tôi đi khắp vùng để thị sát. Ở đây gần thành phố nên cuộc sống tương đối, đã có sẵn 2 trường học được xây dựng bỡi chính phủ, rất khang trang va sạch sẽ, trường trung học Phan Bội Châu, trường mẫu giáo Hàng Làng, và một trường mầm non bằng gổ do dân lập, đã có mặt lâu rồi. Về cầu cống thì chỉ có một chiếc cầu gỗ mà người dân ở đây làm tạm để bắt qua một con rãnh nhỏ, ngoài ra cầu lớn cũng được nhà nước xây dựng đàng hoàng. Chúng ta sẽ không tìm thấy bất cứ một công trình nào của cô Tâm Hiền ở đạo tràng nầy. Riêng cuộc sống của người dân tộc vẫn nghèo khổ, đặc biệt là những gia đình nằm sâu trong núi, có một vài gia đình với mái nhà nghèo nàn, rất xứng đáng được đưa vào chương trình “Nhà Tình Thương”. Về hệ thống nước sạch, ở đây người dân tộc dùng nước giếng, vì là vùng cao nguyên nên giếng nước phải đào rất sâu, chi phí có thể lên đến 4 triệu đồng mỗi cái. Đặc điểm của giếng nước ở đây là vài gia đình có thể dùng chung một cái vì họ ở khá gần nhau.

Dù thế gian có những lừa lọc, những dối dang, những hư ảo của nó, thì bên cạnh khi nào cũng có những nét trong sáng và tươi mát. Những tia nắng ấm đầu Xuân xin đem về với mọi người là hình ảnh hiền hòa và trang nghiêm của một đạo tràng người dân tộc, trong đó hai Ni Sư như những Bồ Tát hoá hiện, đem giọt nước cam lồ về tưới lên những nảo phiền. Xin mời những bạn gần xa về đây để cùng nhau tô điểm cho đạo tràng càng thêm thanh tịnh. Cùng nhau góp thêm một bàn tay để cho suối từ bi khắp nơi khơi nguồn tuông chảy. Tiếng kinh chiều chân thành và thanh thản sẽ lắng đọng và đưa chúng ta vào cỏi miên thường.  

Đầu Xuân Đinh Hợi

Diệu Liên

Dưới đây là những chương trình cần được giúp đở từ đạo tràng Pháp Hoa, chương trình dầu tiên được xem như ưu tiên vì đây là hoài bảo của 2 Ni Sư Minh Hiền và Huệ Đức

2. Phát học bổng, dụng cụ học tập, đồng phục cho 241 học sinh vào 2 dịp nhập học và sau Tết Nguyên Đán.

3. Nhà tình thương: mỗi căn 12 triệu, chúng ta giúp 6 triệu, Phật tử Thiện Hải sẽ làm việc để xin của chính phủ 6 triệu, ưu tiên cho đồng bào người dân tộc Cao Nguyên.

4. Thọ Bát Quan Trai: đạo tràng Niệm Phật cần tài chánh để Ni sư tổ chức bữa cơm trưa cho Phật tử về niệm Phật 7 tháng còn lại, sau khi trừ ra 3 tháng an cư đã có người đóng góp, và 2 tháng dành cho vụ mùa Cafê. Mỗi bữa ăn chi phí đầy đủ khoản $100 Usd. Mỗi tháng có thể tổ chức 1 đến 2 ngày thọ Bát Quan Trai, ngày mùng một và ngày rằm.

5. Giúp đở đào giếng nước. Mỗi giếng nước được xử dụng từ 3 gia đình trở lên, mỗi giếng nước tùy theo điều kiện sâu cạn, từ 120 US đến 300 US

6. Phát gạo, mì gói, muối… vào dịp Phật Đản, Tết hoặc mùa Vu Lan

Để tiện việc sắp xếp những chương trình giúp đở trên một cách hữu hiệu, mọi đóng góp xin đề “Đạo Tràng Pháp Hoa”. Ngoài ra, quý vị có thể ghi rõ số tiền đóng góp sẽ dành cho chương trình gì, Diệu Liên sẽ theo đó để thực hiện.

Nếu có những đóng góp trực tiếp cho đạo tràng Pháp Hoa về các chương trình nêu trên, đặc biệt là chương trình xây lại phòng sinh hoạt, xin quý vị vui lòng cho Diệu Liên để dễ dàng theo sát tình hình của đạo tràng, ngõ hầu xử lý những chương trình trên một cách hữu hiệu và lợi lạc.

Nếu có điều kiện xin mời quý vị về thăm Đạo Tràng Niệm Phật Pháp Hoa, liên lạc về hai ni sư Minh Hiền và Huệ Đức qua thông tin dưới đây:

Chùa Pháp Hoa
Ni sư Thích Nữ Huệ Đức
Ni sư Thích Nữ Minh Hiền
Huyện Di Linh
Tỉnh Lâm Đồng
Xin quý vị liên lạc về Diệu Liên nếu muốn biết số điện thoại

Mọi đóng góp xin gỡi về:
Eyes of Compassion
18 Pergola Rd.
Etobicoke, On
M9W5K6
Canada
Bị chú: đạo tràng Pháp Hoa
Email: eocvn@yahoo.com
Tonnu_dieulien@sympatico.ca

 

Trở Lại Đầu Trang

Lòng thương của anh Từ Truyền và chị Từ Đạt đã đưa chương trình Xangsane, được tài trợ của quý Phật tử các chùa Pháp Vân, Viên Quang, Hương Đàm, Bát Nhã tại Canada đến ngôi làng mang tên An Bình thuộc tỉnh Quãng Trị

Trước ngày lên đường về Việt Nam, chúng tôi nhận được số tiền $500 Us từ anh chị Từ Truyền, đề nghị đến làng An Bình thực hiện chương trình giếng nước. Anh chị nhấn mạnh rằng ngôi làng nầy, vì nguồn nước bị nhiễm độc, bệnh nhân bị bệnh ung thư đã lên con số báo động.

Làng An Bình có 6 xóm không liền nhau, thuộc xã Cam Thanh, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; là vùng thấp trũng, bị ngập lụt nhiều lần mỗi năm, vì vậy bao nhiêu chất phế thải, cặn bã, ô nhiễm đều đổ về đây. Chất độc thấm vào lòng đất, làm cho nguồn nước lấy từ các hệ thống giếng đào đều bị nhiễm độc phèn rất nặng.

Vì là vùng tụ nước lũ, đã làm úng tim lúa, nên năm 2005 – 2006 vụ Hè Thu bị mất mùa trắng 100%. Làng có 326 gia đình, 80% làm nghề nông, 1,220 nhân khẩu, mà có đến 148 hộ thuộc diện nghèo. Trong năm 2005, có 46 người chết thì có tới 28 người bị mắc bệnh ung thư. Đã có bài báo viết về đề tài nước sạch làng An Bình, lấy chủ đề chính là “Làng Ung Thư”, làm cho người dân hoan mang và lo lắng. Gia đình chị Hoa có đến 4 thân nhân qua đời vì chứng bệnh ung thư, trong đó có chồng của chi. Anh ra đi để lại chị 6 đưa con nhỏ đang còn tuổi đi học, trong ngôi nhà gần sập, mà chúng ta sẽ tài trợ nhà tình thương trong đợi hổ trợ bão Xangsane nầy.

Để thực hiện công việc cung cấp nguồn nước sạch, anh Lê văn Diêu đưa Diệu Liên đến tận làng An Bình khảo sát tình trạng nước dùng và đời sống dân làng tại đây. Ngay từ đầu làng, chỉ sau khi kiểm tra vài hệ thống nước đầu tiên, chúng tôi kinh ngạc khi thấy những ứ đọng của chất phèn bên dưới những ảng nước ở một mức báo động, và theo một số dân làng tâm sự, đây là nguyên nhân chính đưa đến tình trạng bệnh hoạn, nhất là ung thư. Qua lời chị Ái Liên, làm việc tại đài truyền hình Quảng Trị, cho chúng tôi biết, báo chí và truyền hình đã đưa vấn đề đến với mọi người trên 10 năm qua. Có một số tổ chức quan tâm, đến tận làng tham khảo, nhưng đã không trở lại để giúp dân làng giải quyết vấn đề nghiêm trọng nầy.

Tổ chức bất vụ lợi “ Plan ” đã tài trợ xây bể lọc nước cho hầu hết các hộ nghèo trong làng. Nhà nào cũng đào giếng với hệ thống máy bơm chuyển nước vào bồn lọc. Bồn lọc được làm nhiều lớp: đá, sỏi, cát và bao nilong. Anh Nguyễn Tiến Lợi và anh Nguyễn Viết, đại diên dân làng An Bình, đưa anh Diêu và Diệu Liên đi thăm từng gia đình, giải thích tường tận mọi vấn đề khó khăn của đồng bào tại đây. Từ bồn lọc nước, các anh bốc lên những nắm phèn cho mọi người xem, toàn là những chất kim loại rất nhỏ có sẳn trong nước giếng, chảy vào bồn lọc. Sau khi lọc xong, nước được chảy xuống một bể nhỏ thấp hơn, là nơi chứa nước cho mọi sinh hoạt của gia đình. Nhiều gia đình, vì nguồn nước quá ô nhiễm phải đẩy xe đi vài cây số để mua từng thùng nước 20 lít về dùng cho việc ăn uống hằng ngày. Dân làng cho chúng tôi thấy những bao nilông, những chiếc thau nhôm, những chiếc ly thủy tinh uống nước, sau một thời gian dùng đã đổi từ màu trắng sang màu vàng của phèn. Một bà cụ kéo tay chúng tôi chỉ vào nền nhà sân trước mới xây, cho biết sau vài lần tát nước lên để chùi, bây giờ đã thành màu vàng ngà.

Tác hại sâu xa của nguồn nước độc không đơn giản, đưa nhiều gia đình đi đến bế tắc. Dân tại đây cơ cực là vì đa số mang bệnh hiểm nghèo. Nhiều cặp vợ chồng trẻ mất sức lao động với những đứa con nhỏ suy dinh dưỡng.  Anh Diêu phát hiện những gói thuốc chửa trị nhiều căn bệnh, nằm đó đây trong các căn nhà rách nát, tiền không có để ăn nhưng không thể không có thuốc uống khi cơn bệnh hành hạ. Những người khoẻ mạnh đã bỏ quê vào Nam làm thuê khiếm tiền trả nợ sau nhiều năm vụ mùa thất thu.

Đi một vòng quanh làng, chúng tôi được trò chuyện cùng một số cụ già neo đơn, tự nuôi sống bằng cách mót rau trong vườn ra chợ bán, lợi tức mỗi ngày khoản 5,000 đến 7,000 vnd (5 cents us). Các cụ nuôi con khôn lớn, nhưng các con đã phải bỏ nơi chôn nhau cắt rốn vào Nam làm thuê. Với số lương đủ sống, nhiền năm liền các anh chị không về quê thăm bố mẹ già, thậm chí có nhiều người không về được để lo mai táng khi cha mẹ qua đời. Sau lần thăm hỏi hoàn cảnh vài cụ già, chúng tôi đã khởi ý niệm tặng quà cứu trợ bão Xangsame, đặc biệt đến các cụ, đã phải lủi thủi sống một mình lúc tuổi già bóng xế.

Em Nguyễn Thị Tư, 15 tuổi, bố mất sớm do tai nạn lao động, để lại Mẹ một mình tiếp tục còng lưng trên thửa ruộng nuôi sống hai mẹ con. Năm nay, do trận bảo Xangsane, kéo theo mưa nhiều gây lũ lụt, cả làng bị mất mùa, Mẹ của Tư cũng không tránh khỏi. Mẹ đành phải bỏ đứa con duy nhất lại quê, gửi gấm cho ông bà ngoại và các cậu, lên đường vào Nam làm thuê cho một quán ăn. Tư cho biết mỗi tháng Mẹ làm được 600,000 vnd ( $40 Us ), gửi về cho em ăn học 100,000 vnd. Chúng tôi hỏi: “vì sao Mẹ làm 600,000 vnd và đã được cơm ăn chốn ở mà chỉ gửi về cho con 100,000 vnd ($6.50 us)”. Tư mĩm cười, trả lời một cách thẹn thùng: “Mẹ vay nợ hợp tác xã để mua lúa giống và phân bón, nhưng hai năm liền mất mùa, nên Mẹ đi làm xa để dồn tiền trả nợ”. Chúng tôi hỏi tiếp: “mỗi tháng em lấy thêm tiền đâu để bù cho việc ăn học của mình”. Tư đáp: “Mẹ dặn cắt chuối trong vườn ra chợ bán, hái rau trong vườn mà ăn, cuối tháng hết tiền thì qua nhà Ngoại và các cậu xin ăn cơm”.

Qua câu chuyện gia đình cháu Tư, khi trở lại trụ sở hợp tác xã, thấy các bao phân bón và lúa giống, chúng tôi đã đề nghị việc lập danh sách các gia đình nghèo, không có khả năng mua lúa giống và phân bón, sẽ được quỹ Xangsane tài trợ miễn phí để dân làng có điều kiện bắt tay vào công việc đồng án cho kịp vụ mùa năm nay. Tổng cộng có 77 gia đình nghèo được nhận sự tài trợ lúa giống và phân bón cho 231 sào ruộng với số tiền 130,000 vnd cho mỗi sào. Cũng qua hoàn cảnh của em Tư, chúng ta thực hiện chương trình học bổng cho các em hiếu học có hoàn cảnh khó khăn.

Thấy được nguồn gốc gây sự nghèo đói cho hiện tại và còn tiếp tục là một tác hại lớn trong tương lai, chúng tôi đã mạnh dạn nhờ đại diện dân làng An Bình, liên hệ với nhà máy nước tỉnh Quảng Trị, hợp tác thực hiện chương trình nước máy cho cả làng. Kết quả của lời đề nghị trên đưa đến một hợp đồng được ký giửa đôi bên. Nhà Máy Nước tỉnh Quãng Trị sẽ mở một đường ống dẫn nước đến đầu làng cho 159 hộ gia đình trong đợt I (đợt II sẽ tùy thuộc vào sự thành công của đợt I để có một giao kèo mới), sẽ hoàn tất vào tháng 6 năm 2007. Phần đưa nước vào nhà người dân sẽ được chúng ta giúp đở, chi phí là 2,000,000 vnd ($115 us) cho mỗi gia đình. Vì mức sống của dân làng có sự chênh lệch, chúng ta đã nhờ các Anh trong ban tổ chức nghiên cứu và thanh lọc kỷ lưỡng danh sách của những người nghèo được chọn để giúp đở. Trong đó có 40 gia đình đủ sức tự lo cho chính mình, 25 gia đình có khả năng đóng 1,500,000 vnd, 19 gia đình đóng 1,000,000 vnd, 29 gia đình đóng 500,000 vnd, và sẽ có 46 gia đình được cấp đường dẫn nước vào nhà miễn phí.

Ngày 23 tháng 1 năm 2007. Để cùng đồng bào An Bình có một cái Tết Bình An sau những ngày giông bão, quý Ni Sư Minh Bảo, Minh Tuệ, Hải Liên, Diệu Trì, Huệ Hạnh, Như Minh đã đại diện thầy Thích Tâm Hòa trù trì chùa Pháp Vân, thuộc thành phố Mississauga, người phát động chương trình cứu trợ Xangsane nầy, ra phát quà cho dân làng, mọi người hân hoan nhận những món quà Tết thân thương.

Sau hai lần họp mặt cùng với ban lãnh đạo chính quyền xã Cam Thanh, có mặt đông đủ anh em trong ban từ thiện Phật Giáo tỉnh Quảng trị và huyện Cam Lồ, chúng ta đã bằng lòng thực hiện 8 chương trình đóng góp cho đồng bào nghèo đang cư trú tại vùng chịu nhiều ảnh hưởng do thiên tai gây nên. Sau lời tuyên bố quyết định thực hiện, đặc biệt là quyết định đem nước máy vào những hộ nghèo, chúng ta đã gây một sự kinh ngạc và xúc động lớn cho tất cả các anh chị thuộc mọi ngành mọi giới trong buổi họp. Các anh cho biết rằng, những năm qua, nhiều đoàn thể từ thiện và chính quyền đã đến khảo sát, tìm hiểu rồi lên danh sách nhưng không ai trở lại; một lần các anh đi làm danh sách là một lần gây hy vọng rồi đưa ra nghi vấn xôn xao cho đồng bào trong nhiều ngày tháng. Lần nầy chúng ta vào, nhờ các anh đi làm danh sách, các anh lo ngại lắm. Các anh tâm sự: “nếu lấy danh sách rồi chúng tôi không trở lại sẽ tạo nghi ngờ cho dân làng, họ bảo chúng tôi nhận tiền tài trợ rồi chia nhau, nếu không lấy danh sách theo yêu cầu thì sợ mất cơ hội cho mọi người … “. Nguồn tin hội Phật giáo từ Canada đến tài trợ nguồn nước máy đã lan rộng khắp làng, người dân hân hoan và mong đợi ngày có nguồn nước sạch dẫn vào làng.

Tại làng An Bình chúng ta đã thực hiện những chương trình sau, với tổng chi phí là 235,230,000$ vnd = $16,810 Cad.

1) Tặng phân bón và lúa giống cho 44 gia đình, cho 236 mẫu ruộng, chi phí 30,680,000$ vnd.

2) Đúc 30 bi, mỗi cái 100,000$, vnd làm cống thoát nước cho 8 con đường lầy lội dẫn ra ruộng, sẽ thực hiện sau Tết Nguyên Đán, chi phí 3,000,000$ vnd.

3) Tặng quà cho 27 trẻ em khuyết tật, mỗi em từ 150,000$ vnd đến $200,000 vnd, chất độc Da Cam, bại não, động kinh, chi phí 4,550,000$ vnd.

4) Tặng quà cho 20 cụ già neo đơn, mỗi phần quà 200,000$ vnd, chi phí 4,000,000$ vnd.

5) Tặng học bổng cho 20 học sinh nghèo hiếu học, mỗi phần 400,000$ vnd, chi phí 8,000,000$ vnd.

6) Tặng 3 căn nhà tình thương, bị hư hại do bão gây nên, hai căn trị giá 8,000,000$ vnd mỗi căn, và 1 căn trị giá 5,000,000$ vnd, với sự hợp tác công thợ của gia đình và dân làng, chi phí 21,000,000$ vnd.

7) Làm hợp đồng dẫn nước máy với nhà máy nước Quảng Trị, đưa nước vào tận 159 nhà dân, chi phí 164,000,000$ vnd.

Đó là chi tiết của chương trình làng An Bình, Diệu Liên xin gởi đến quý ân nhân như một món quà nhỏ trong những ngày đầu Xuân.
Kính,
Tôn Nữ Diệu Liên
Đầu Xuân 2007
 

Trở Lại Đầu Trang

Cơn bão Xangsane đã tạo duyên lành cho Diệu Liên đến gần với người dân nghèo tỉnh Quảng Nam, đây là lần đầu tiên được về thăm xã Quế Long và xã Quế Thuận, huyện Quế Sơn. Anh Lê văn Diêu, trưởng ban từ thiện xã hội Phật giáo tỉnh Quảng Trị, cùng Diệu Liên đến đây thực hiện chương trình trẻ em khuyết tật.

Anh Diêu đã liên lạc và sắp xếp chương trình cụ thể với một số giáo viên, là những người giới thiệu bà con nghèo và liên hệ với đại diện dân làng tại địa phương, để giúp chúng ta được đến thăm từng gia đình và phát quà tận tay các em bị khuyết tật.

Trong khi chờ đợi, thầy Trần Đình Phúc có trình bày hoàn cảnh của một em học sinh mà Thầy đã dạy cách đây hai năm.  Thầy cho biết học sinh nghèo thì nhiều vô kể, nhưng có những trường hợp, dù em đã rời lớp nhiều năm nhưng hình ảnh và hoàn cảnh ấy Thầy không bao giờ quên. Dù chúng ta đang đi thực hiện chương trình trẻ em khuyết tật, Thầy vẫn mong mọi người để một chút thời gian dành cho em học sinh nầy. Biết em quá nghèo, thỉnh thoảng Thầy vẫn giúp em vài chục ngàn, Thầy chỉ biết dạy kèm thêm cho em để em được học giỏi, sau nầy có cơ hội nuôi thân. Vì lời giới thiệu của thầy Phúc, sau khi thăm và phát quà 21 em khuyết tật, chúng tôi đã đến địa điểm hẹn để gặp em Nguyễn văn Toàn.

Chỉ mới 7 giờ chiều, chiếc xe chạy về hướng xã Quế Thuận, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Ngoài trời tối như mực, trời mưa dầm dề và se lạnh thật khó chịu. Bổng nhiên có ba bốn người chạy ra đường chặn xe lại. Sau đó chúng tôi mới biết là điểm hẹn với em Toàn và thầy Phúc có thay đổi, vì sợ xe chạy quá đường rồi mất đi cơ hội cho em Toàn, nên cả cô chủ nhiệm lớp em đang học, thầy Phúc, và bà con hàng xóm đã đứng đón đường để đưa đoàn vào quán café bên đường, cùng nhau thăm hỏi em Toàn.

Trong nhóm người ngồi chờ tại quán café, Diệu Liên thấy một cậu bé nước da ngâm đen, mắt một mí, đầu cúi xuống, lưng cong tròn, hai tay sưởi ấm giửa hai đầu gối chân. Trên người em, chiếc áo sơ mi trắng đã ngã vàng với những đốm đen vì bị cốc và chiếc áo màu xanh lá chuối ngắn tay mong manh. Đây là chiếc áo cho giờ thể dục thể thao, đã được em dùng thay chiếc áo len mùa Đông. Linh tính và kinh nghiệm đã đưa Diệu Liên đến ngồi ngay bên em, Diệu Liên hỏi: “áo len con đâu?”, em trả lời: “con không lạnh”, em chính là Toàn, 15 tuổi, học lớp 10 TTHPT Quế Sơn, mà mọi người đang muốn Diệu Liên gặp mặt. Hình ảnh gầy yếu, dấu mình trong chiếc áo thể dục thể thao, chống lại cái rét keo dài của miền Trung, hiện lên trong trí của Diệu Liên nhiều lần sau ngày gặp mặt. Khi ra đến Huế, Diệu Liên gọi vào nhờ thầy Phúc và cô chủ nhiệm mua áo len và chăn ấm cho hai Mẹ con em.

Ngồi quanh hai bàn lớn, bà con lối xóm nóng lòng đứng quanh em, la lối om xòm: “ … nói đi, nói cho Cô nghe rồi Cô giúp cho, cái thằng ngu, sao im như hến vậy…” Họ la em vì thấy cơ hội đến mà em không có nửa lời. Mọi người rất thương em nhưng không có gì để giúp. Em vẫn cúi đầu, dòng lệ chảy ra khoé mắt nhỏ xíu, em gục đầu trên hai tay không nói được lời nào. Diệu Liên đã an ủi em nhiều lần để làm vơi đi sự nghẹn ngào. Biết em không nói được, Diệu Liên đề nghị với em: “Nếu con không thích nói cho Cô nghe, vậy thì khi Cô ra Huế rồi con viết thư cho Cô được không? ” em rụt rè đáp: “Dạ được”.

Bố em đã bỏ Mẹ, chị và em ra đi. Mẹ vì muôi hai con nhỏ, quá lao lực đã lâm trọng bệnh. Mẹ bị bệnh động kinh, suy nhược nặng, nằm liệt giường liệt chiếu nhiều năm qua. Chị em vì nghèo phải đi lấy chồng sớm cho gia đình bớt miếng ăn, lần sanh con đầu lòng lại là một cặp sanh đôi, nên cuộc sống làm nông của vợ chồng chị rơi vào thiếu thốn.

Mỗi ngày em thức dậy lúc 4 giờ sáng, làm vệ sinh toàn thân cho Mẹ, xoay qua nấu cháo và đút cho Mẹ ăn, Mẹ ăn rất lâu vì nuốt không xuống, sau khi lo xong cho Mẹ em chuẩn bị đi học. Trưa về em lại vệ sinh cho Mẹ, lại nấu cháo và đút cho Mẹ, chiều đến em lo công việc trong nhà, chuẩn bị tìm thức ăn để mai lại tiếp tục nấu cháo cho người bệnh. Tối đến sau giờ cơm cho hai Mẹ con, em ôn bài cho ngày hôm sau. Diệu Liên hỏi: “ tại sao con không nấu cháo một lần cho lợi thời gian?” Toàn nói: “Mẹ chỉ ăn được cháo nóng mà thôi”. Sau nầy Diệu Liên ngồi ngẫm nghĩ cũng đúng, vì cháo em nấu có nhiều tình thương nhưng thật ra em lấy gì để nấu cháo cho Mẹ. Với số tiền 63,000 VND ( $4 us ) chính quyền xã giúp gia đình có người mang bệnh hiểm nghèo mỗi tháng, và 40,000 VND ( $2.50 us ) chị ruột, xắn bát cơm chia sẽ cho em. Không có tiền đi chợ nên chẳng có gì để nấu, em phải bỏ nhiều công để thức ăn được nóng và lỏng Mẹ mới ăn được. Diệu Liên nhìn em rồi hỏi: “tại sao cuộc sống khổ cực như vậy mà con không chán nãn?”. Em cúi đầu trả lời: “Vì Mẹ sanh ra con, Mẹ đã nuôi con khôn lớn”. Một lý do đơn giản của tuổi thơ nhưng lại cho em một sức mạnh phi thường để vượt lên mọi thử thách và khó khăn, mà cuộc sống không may đã phủ xuống gia đình em.

Cô chủ quán café và bà con lối xóm còn cho biết trước đây, khi bà Ngoại còn sống, một mình hai bát cháo khác nhau, một muỗng cho Mẹ rồi một muỗng cho bà, Ngoại của em cũng bị liệt, và em đã phải chăm sóc Ngoại và Mẹ như nhau. Bà con nói rằng hôm có đoàn cứu trợ bão Xangsane đến phát gạo cho hộ nghèo, em âm thầm đến nhận gạo, đèo trên xe đạp về nhà, một cuộc sống lặng lẽ, tự vương lên cho chính mình. Sự lặng lẽ báo ân đấng sanh thành dưỡng dục của em đã động lòng những người hàng xóm. Em không bao giờ than vãn mà cũng chẳng xin xỏ ai. Diệu Liên mong rằng sự khó khăn của em sẽ gây nên niềm thương cảm đến quý ân nhân “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời”.

Diệu Liên có đề nghị với thầy Phúc một mai Mẹ em qua đời, nếu em cần một nơi nương tựa để học xong đại học, xin Thầy báo cho Diệu Liên biết, Diệu Liên có khả năng lo cho em xong ngưỡng cửa Đại học. Sau câu nói đó, mọi người đều ngạc nhiên và sung sướng, nhất là thầy Phúc, nụ cười tươi hiện rỏ trên khuôn mặt của người thầy giáo củ, Thầy nói: “thật là may mắn cho cháu Toàn, nếu Cô làm được như vậy thì không còn gì để nói nữa”. Diệu Liên mạnh dạn đề nghị là vì bên cạnh Diệu Liên có hằng ngàn đôi mắt và  bàn tay “Hiểu” và “Thương”, đã cùng san sẽ với Diệu Liên trong suốt nhiều năm tháng qua, làm công việc vun tưới những mãnh đất khô cằn trở thành những thửa đất tươi tốt.

Sau đêm họp mặt của đầy đủ bà con và cô thầy giáo, anh Diêu trao tặng em một xuất học bổng 600,000 dvn ( $40 Us ), nói là học bổng nhưng chúng ta sẽ tiếp tục tạo điều kiện giúp thêm tài chánh cho Mẹ và em. Cứ mỗi 3 tháng sẽ có người chuyển tiền đến cho em, em sẽ được sự giúp đở từ nhiều ân nhân khác nhau, để trong em được tiếp nhận dòng sửa yêu thương từ nhiều người Mẹ khắp nơi

Mùa Đông 2006,
Diệu Liên

Trở Lại Đầu Trang

Hồi còn ở trung học, vào tuổi 16, có lần tôi đi theo chị Liên Hương vào bệnh viên thăm bệnh nhân. Chị Liên Hương là sinh viên trường đại học Y Khoa Huế, những ngày trực Chị thường đến nhiều khoa khác nhau để chăm sóc người bệnh. Một ngày cuối năm, Chị đưa tôi vào thăm các em tại khoa Nhi. Vào những ngày chuẩn bị đón Tết, tất cả bệnh nhân đã sắp xếp về quê nhà, các em còn lại nằm trong trường hợp bệnh tình nghiêm trọng, cần có bác sĩ theo dõi, hay do gia đình khó khăn, không có kinh phí để các em được về quê ăn Tết. Chị Liên Hương đã chuẩn bị sẵn một ít bánh, kẹo, sửa để tặng bệnh nhân, gọi là một chút “Quà Xuân”.

Từ đó, những ngày nghĩ học tôi thường một mình đi lang thang qua các hành lang bệnh viện, nhìn sinh hoạt hàng ngày của các bệnh nhân. Nhìn như vậy cho tôi sự gần gủi với bệnh nhân và thân nhân của họ. Tôi có những cảm thọ của vui, buồn, đau đớn khi tiếp xúc những cảnh ngộ khác nhau.

Một hôm, trong hành lang bệnh viên trung ương Huế, nhìn một người đàn ông độ tuổi 40, đứng ngay đầu thành giường, bên cạnh là mẹ anh ta, khuôn mặt Mẹ đau đớn không kém gì niềm đau của Anh. Anh chỉ mặc áo, đứng trần hai chân trước mặt mọi người, rên rỉ trong bức rức khó chịu mà không một chút ái ngại. Tôi thắc mắc không biết anh ta bị bệnh gì nên đến gần hỏi người bệnh nhân cùng phòng với anh. Bác bệnh nhân cùng phòng cho biết anh vừa qua một ca phẩu thuật ở phần dưới bụng, đường mổ vẫn còn mới, khi anh cần đại tiểu tiện đều rất khó chịu và đau đớn, sợ cho ra chất thải thì vết mổ sẽ bị rách trở lại. Tôi hiểu vấn đề qua lời giải thích mộc mạc của bà cụ, Đại tiểu tiện là việc hằng ngày của mỗi người, vậy mà đối với một số căn bệnh thì đó là một vấn đề khó khăn và đầy khổ cực.

Hôm nay, nhân chuyến công tác cứu trợ bão Xangsane va Durian 2006, tôi có cơ hội ở lại ăn Tết tại quê nhà, đã không quên thực hiện lại chương trình “Qùa Xuân” của những năm về trước. Việc làm tuy nhỏ nhưng mang nhiều niềm thông cảm và chất liệu mến thương.

Ngày 27 tháng chạp Âm lịch, chúng tôi được cho hay ở bệnh viện Huế, nhiều bệnh nhân đã được “chỉ thị” về nhà ăn Tết, chỉ có những bệnh nhân quá nặng cần sự chăm sóc mới được ở lại vì bệnh viện sẽ giảm người làm việc. Một số người bệnh ra về gặp khó khăn vì không có điều kiện di chuyển, tiền mua thuốc men trong khi điều trị tại nhà. Chúng tôi lập tức lên chương trình giúp đở. Chuẩn bị xong những gói bánh kẹo cho trẻ em, những phong bì tiền mặt, chúng tôi gồm có sư cô Phước Thiện, bác sĩ Thúy Hằng, Diệu Liên và Minh cùng nhau vào bệnh viện để kịp thời gởi cho bệnh nhân những món quà Xuân.

Bệnh Viện bắt đầu vắng người vì buổi sáng đã có một số lớn được về nhà. Những khoa Tim, khoa Nhi hay khoa Ung Bứu cũng chỉ còn lại những bệnh nhân nặng, hoặc người ta ở các tỉnh xa đến đây điều trị. Chúng tôi được BS Hằng đưa đi từng khoa, tận tay trao những phong bì và bánh kẹo đến những bệnh nhân. Mỗi bệnh nhân là một trường hợp thương tâm và đầy xúc cảm. Những câu chuyện của họ cũng tội nghiệp như chính vết thương mà họ đang mang trên mình. Có những cháu nhỏ chưa đầy 2 tuổi đã vào đây với mẹ để mổ tim, làn da còn xanh vì mất máu. Những bệnh nhân người dân tộc thiểu số đến từ núi rừng Nam Đông, không thân thích, phải nhờ đến lòng hảo tâm của mọi người. Tệ nạn nghiêm trọng xẫy ra mỗi năm trước những ngày Tết tại Viện Nam là tai nạn giao thông, vì vậy trong bệnh viện những người mang thương tật vì đụng xe rất nhiều.

Chúng tôi đến với những bệnh nhân bằng một niềm thông cảm và chia sẽ không cùng. Với số tiền khiêm nhượng 100,000 vnd ( $6.5 us ) cho mỗi bì thư, chỉ là “Quà Xuân” trong ba ngày Tết. Dù vậy chúng tôi cũng vẫn thăm viếng và gửi gấm tình thương của mọi người đến bệnh nhân. Có những trường hợp đặc biệt, chúng tôi đưa cho họ nhiều phong bì như một lời chia sẽ cho tình trạng hiểm nghèo của họ. Dù không giúp được nhiều, nhưng nhìn vào những khuôn mặt rạng rỡ với lời nói và ánh mắt biết ơn, chúng tôi thấy ấm áp vô cùng.

Sau khi phát “Đại Tràng” cho bệnh nhân, nghĩa là đồng đều chia sẽ để mọi người có quà trong ba ngày Tết, mọi người ra về vui vẻ. Chúng tôi tiễn sư cô Phước Thiện về, không quên lời cám ơn chân tình, đặc biệt là BS Hằng. Buổi tối trời vẫn se lạnh, chúng tôi chở nhau về trên chiếc Honda hai bánh.

Ngày hôm sau, bác Nguyễn thị Thu, đang sinh sống tại Washington, điện thoại thăm tôi ở Huế . Khi được biết chúng tôi đã thực hiện chương trình “Quà Xuân”. Bác nhờ thân nhân đem qua nhà chúng tôi thêm $200 us. Chính vì vậy Minh và tôi đã có duyên trở lại bệnh viện để trao thêm quà từ bác Thu và các vị ân nhân khác.

Mồng một Tết, Diệu Liên và Minh trở lại bệnh viện. Khác với lần phát “đại tràng” trước đây, Diệu Liên đi vào những nơi chưa thăm và tùy theo tình trạng để giúp đở cho hợp lẽ. Buổi tối mồng một ở bệnh viện khá vắng vẻ, chúng tôi vào đây không gặp khó khăn vì hầu hết mọi người đã nghỉ làm, thỉnh thoảng gặp một vài anh bảo vệ dễ thương, họ không hề làm khó dễ gì đến việc làm của chúng tôi.

Băng qua một dãy hành lang, Diệu Liên nghe tiếng người trò chuyện rất lớn. Đây là khu cấp cứu, lại là mồng một Tết, sao lại có người trò chuyện giữa đêm khuya. Diệu Liên nhìn về phiá lời đối thoại, hai bác già đang say sưa một vấn đề gì đó. Linh cảm cho Diệu Liên biết có chuyện gì xảy ra. Sau lời thăm hỏi, chúng tôi được bác gái cho biết đang ở tình trạng khó khăn. Bác dẫn chúng tôi xuyên qua dãy hành lang, vào thẳng phòng cấp cứu thăm đứa cháu vừa bị tai nạn. Em tên Tình, 15 tuổi, học lớp 8. Em được nghỉ học ngày 28, đi giử Trâu mấy ngày Tết. Vì vô ý em đã làm nổ một quả đạn, chân và người em bị thương nặng, mất máu rất nhiều. Diệu Liên tặng em Tình 500 ngàn Viet Nam để lo cho em trong những lúc cấp thiết. Nhân đó chúng tôi có cơ hội thăm một vài người còn lại đang nằm gần đó, tình trạng cũng thật bi đát.

Chúng tôi vào khoa “Sãn Phụ”. Ở đây tình trạng của những người mẹ trẻ rất tội nghiệp, chúng tôi đi thăm hỏi từng người và theo đó để giúp đở. Chúng tôi tiếp tục vào khoa “Mắt tai mũi họng”, khoa “Ngoại chỉnh hình” và “Cháy bỏng” hỏi han và chia sẽ số tiền còn lại. Mọi người vui vẻ nhận món quà nhỏ và không quên lời cám ơn chân tình

Trong suốt hai lần vào thăm trong mùa Tết, Diệu Liên ghi nhận được hai điều quý giá khi phát quà ở đây. Điều đầu tiên là các chị Y Tá ở bệnh viện rất hết lòng giúp đở. Các chị vui vẻ, nhiệt tình giới thiệu những trường hợp thương tâm nhất cho chúng tôi. Điều thứ hai là chính những bệnh nhân trong bệnh viện, thường đi theo chúng tôi để giới thiệu với chúng tôi những tình trạng cần giúp đở nhất khi không có các chị y tá bên cạnh. Hai điều nầy làm cho chúng tôi ấm áp và cảm thấy bên cạnh mình và những ân nhân giúp đở, còn rất nhiều những người có lòng, luôn luôn muốn làm cái gì đó cho tha nhân
   
Những món “Quà Xuân” tương tự như trên cũng đã được gởi đến nhiều bệnh viện khác nhau trong khu vục Trung Bắc, do các nhóm thiện nguyện viên thực hiện tại địa phương của mình

Trở Lại Đầu Trang

Rời Toronto với một chương trình khá bận rộn cho Việt Nam, Diệu Liên thấy mình có thêm nhiều năng lượng trong chuyến về nầy. Động lực giúp Diệu Liên thêm sức mạnh có lẽ là sự tin tưởng của thầy Tâm Hòa, trù trì chùa Pháp Vân, Mississauga Canada. Thầy đã đại diện một số chùa ở Canada và Phật tử, gửi gấm một số tịnh tài lớn để Diệu Liên làm việc giúp quý Thầy ở Việt Nam, tập trung cho nạn nhân cơn bão Xangsane số 6 vừa qua. Chính cái động lực tinh thần và nguồn tài chánh lớn lao đó đã thúc dục Diệu Liên trở về mạnh mẽ, đầy niềm vui sướng. Đây có lẽ là lần đầu tiên Diệu Liên có nhiều phương tiện để giúp những người nghèo khó nhất so với những lần về vừa qua.

Vừa đến Huế, trước khi Diệu Liên bắt đầu thực hiện những chương trình cho nạn nhân cơn bão Xangsan, cơn bảo Durian số 9 bắt đầu thổi vào đồng bằng Nam bộ, nhận chìm hàng ngàn tàu bè trên biển, phá tan rất nhiều nhà cửa, thiệt hại nhiều nhân mạng. Giữa tình trạng khẩn cấp nầy, quý Thầy và Diệu Liên đã quyết định chuyển một phần lớn số tiền quyên được cho cơn bão Xangsane qua cho nạn nhân bão Durian nầỵ  Thiết nghỉ điều nầy sẽ được quý Phật tử và những nhà hảo tâm chấp nhận vì chúng ta đã đáp ứng được tình trạng khó khăn cấp thiết nhất cho những người gặp nạn. Đây cũng chính là hoài bảo của những người đã giúp đở.

Theo dự báo thời tiết, bão vẫn hoành hành các tỉnh miền Nam. Nhiều tuyến đường có lịnh cấm không được đi lại, như tuyến đường ra đảo Phú Quý. Hai ngày liên tiếp ni sư Như Minh xin lệnh ra đảo để cứu trợ đều bị từ chối.

Mặc dù tin tức loan báo từng giờ trên đài về các hướng đi và sự tàn phá của cơn bão, đoàn cứu trợ vẫn quyết định lên đường để kịp thời đến những nơi đang gặp nạn. Chuyến đi được tổ chức gọn nhẹ gồm có ni sư Như Minh, sư cô Diệu Đàm, sư cô Huyền Chi, chị Cúc, Diệu Liên, anh Mẫn thợ quay phim, anh Trung và anh Hoàn là hai tài xế. Gọn nhẹ là vì đoàn đi đến đâu thì tại địa phương đã có các chùa lo phụ trách phần tổ chức, quý Phật tử tại địa phương là nguồn nhân lực chính về vấn đề sắp xếp quà cứu trợ, giử trật tự và thu xếp sau khi hoàn tất.

Sáng ngày 12 tháng Chạp năm 2006, lúc trời còn mờ sương, đoàn xe lăn bánh hướng về miền Nam. Những buổi ăn và sự nghỉ ngơi đều thực hiện trên xe vì phải rút ngắn thời gian đi lại. Dự tính sẽ đi ủy lạo trong 4 ngày vì còn nhiều Phật sự quan trọng cần sự có mặt của quý Sư tại chùa. Trời buổi chiều bỗng tối sầm, mây đen u ám. Theo sự hướng dẫn của sư cô Diệu Minh, xe lăn bánh qua đường đèo mới được xây dựng hướng về khu du lịch Mũi Né, hai bên đường toàn là rừng cây và bụi rậm, không một bóng người qua lại, với tấm bảng gắn trước xe “Đoàn Cứu Trợ Bão số 9”, để dể dàng “xin đường” các anh cảnh sát công lộ. Những tấm bảng như thế nầy cũng có thể là mồi ngon cho các anh Lâm Tặc, họ theo dỏi và cho người cướp tiền cứu trợ khi thuận lợi. Đã có một vài đoàn cứu trợ từ miền Nam ra Huế bị cướp nên khi đến Huế không còn tiền để cho. Mặc dù đoàn của chúng ta không đem theo tiền mặt, tất cả hàng hoá và tiền đều được chuẩn bị tại địa phương, chúng ta dùng phương tiện chuyển ngân qua ngân hàng để hoàn trả nợ nần sau khi hoàn tất; điều nầy không ngăn cản được những việc làm phi nghĩa của họ khi gặp đoàn cứu trợ.  Mọi người ai cũng ấp ủ nỗi lòng trĩu nặng, nhưng không nói ra sợ làm mất tinh thần của những người trong xe, lâm râm niệm Phật. Cuối cùng thì đoàn cũng đến chùa Phước Thiền bình an, dù đã quá nữa đêm; chùa trong đêm u tịch sáng rực ánh đèn, gần 20 ni cô trẻ vẫn còn thức để đón tiếp đoàn cứu trợ.

Rời chùa, đoàn đến địa điểm phát quà đầu tiên, xã Tân Thắng, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Khi đến địa điểm, khoảng 2000 người đã có mặt. Chính quyền xã, ban từ thiện Phật giáo tỉnh và đồng bào có phiếu cứu trợ đứng đầy cả sân hội trường. Tại đây, Sư bà Như Như ở chùa Bình Quang, người lo từ thiện tỉnh Bình Thuận, đã tổ chức buổi cứu trợ, các anh chị em gia đình Phật tử địa phương chịu trách nhiệm sắp xếp 700 phần quà. Trước sân hội trường chúng ta thấy nhiều trẻ em và cụ già đi nhận quà, Sau cơn bão, nhiều nhà cửa bị sụp đổ, mùa màng bị hư hại, những người lao động chính trong nhà phải cấp tốc làm việc nhiều hơn để ổn định kinh tế hằng ngày. Nhiều cụ già đứng tận ngoài đường, tay cầm tấm phiếu, nhìn bức tường bằng người đang bao quanh khu vực phát quà mà không thể chen vào được. Diệu Liên đã đưa các cụ đến tận bàn để giúp cụ nhận quà, vui quá cụ cầm chặt tay Diệu Liên, miệng cười thật tươi.

Người trao người nhận ân cần
Hương hoa từ ái muôn lần thắm tươi
                                                             (Sư Như Minh)

Rời Bình Thuận sớm hơn dự định, chúng tôi tiến thẳng vào Nam. Quý sư cô phải làm việc qua điện thoại cầm tay khi xe đang di chuyển để liên lạc với các địa điểm phát quà mới. Nơi đến là làng Tân My, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Trời về chiều, với những tia nắng ấm còn sót lại, xe dừng ở chùa Viên Quang, đây là văn phòng của Ban Trị Sự Tỉnh Bến Tre, và được hoà thượng Hạnh Tấn ra tiếp đón một cách ân cần vui vẽ. Hoà thượng cho mọi người dùng bửa cơm chiều thanh đạm, chính Hoà Thượng đích thân ôm mền mùng lên phòng ngủ và hướng dẫn nhà tắm và nhà vệ sinh, Hòa Thượng còn cẩn thận khi khệ nệ đem đến cho chúng tôi nhiều chai nước suối. Sự đơn giản, chân tình, niềm nở, cử chỉ ân cần của Hoà Thượng làm mọi người cảm thấy dễ chịu và ấm áp.

Sau một giấc ngủ ngon, chúng tôi chuẩn bị lên đường đi về huyện Ba Tri. Cùng một buổi sáng, chùa Viên Quang đã đón những đoàn từ thiện khác về cứu trợ. Các đoàn được Hoà Thượng phân phối địa điểm cho công bằng và hợp lý. Mặc dù đi cứu đói và làm việc vất vả mà khuôn mặt mọi người ai cũng rạng rở vui tươi, vừa cười vừa nói, từ sân chùa ra đến đường lộ, người đi tới kẻ chạy lui vui nhộn như ngày hội, ngày hội của “Tình Người”.

Cảnh vật bên đường khi đến Ba Tri thật  tang thương, nhìn những căn nhà sụp đổ mà xót cho cuộc sống của người dân nghèo. Sự lo sợ của thiếu thốn như hiện rõ trên ánh mắt và nét mặt buồn rầu của họ. Những phần quà đã được ban từ thiện Phật Giáo huyện Ba Tri, dưới sự sắp xếp của đại đức Thích Thông Lý, trù trì chùa Nguyên Chiếu, đã bày ra cho 300 gia đình khó khăn xã Tân Mỹ. Đồng bào đứng bao quanh theo sự chỉ dẩn của ban trật tự, lắng nghe Sư Như Minh gửi lời thăm hỏi đến bà con. Sư tâm sự rằng vì là người dân miền Trung, bão lụt hằng năm, thấm được cái lạnh các đói những ngày sau cơn lũ lụt, nên dù đường xa ngàn dặm, xe chạy xuyên đèo nguy hiểm. Nhưng với sự gửi gấm của Phật tử hải ngoại từ các chùa Pháp Vân, Hương Đàm, Viên Quang, Bát Nhã, Hội Người Việt Toronto, tổ chức EOCVN, cùng BTTPG Thừa Thiên - Huế, đoàn đã lên đường để kịp thời đến tận nơi, nắm lấy những bàn tay thân thương, chia sẽ những món quà nhỏ và an ủi niềm đau của đồng bào xã Tân Mỹ. Khi nghe lời tâm sự của Sư, những con mắt đỏ hoe vì cảm động, những chiếc nón nghiêng qua che vội những khuôn mặt của những người vợ trẻ ướt đẩm nước mắt, đang bồng bế những cháu nhỏ trên taỵ  Tình thương của đoàn là ngọn lữa sưởi ấm những con người thiếu thốn trong những ngày giá lạnh

Món qùa nhỏ, vạn niềm thương
Tình người thể hiện quê hương tỏ bày
                                     (Sư Như Minh)

Trong hoạn nạn mới biết tình người dành cho nhau. Đặc biệt tại đây, sau khi phát quà xong, ủy ban xã đã đãi mọi người uống nước Dừa, cô thư ký hát tặng đoàn để đáp lể Sư Như Minh đã đọc thơ tặng mọi người.

Rời Tân Mỹ vào xế trưa, trên đường hướng về xã Ngãi Đăng huyện Mỏ Cày, thầy Thông Lý gọi điện về Cô Ba - tiệm Hủ Tiếu Chay để nhờ chuẩn bị 10 phần ăn. Cô Ba là tín đồ đạo Cao Đài, những có một tình cảm đặc biệt với các chùa Phật giáo, và luôn luôn sẳn sàng cúng dường Hủ Tiếu Chay cho chư tăng ni và Phật tử đang trên đường đi làm Phật sự.

Trước cổng hội trường, đoàn được đón tiếp niềm nở. Nhóm Phật tử chùa Nguyên Chiếu đã phụ trách công việc sắp xếp quà. Đây là một xã nhỏ ít dân, nên chúng ta chỉ gửi quà tặng đến 150 hộ nghèo.

Một nét đặc biệt tại xã nầy là ban điều hành toàn những thành viên trẻ, độ tuổi 30 đến 50, với khuôn mặt dễ dãi, tinh thần làm việc nhiệt tình, tác phong nhanh nhẹn, đã tạo ra một không khí thân mật hoà đồng với chúng tôi ngay từ ban đầu. Lúc đoàn rời xã, một anh đại diện dân làng còn trẻ lắm, với chiếc áo sơ mi trắng, đến cạnh Diệu Liên, trong đôi mắt anh nói lên niềm xúc động thật sự : “… em không biết làm sao nói lên mỗi cảm xúc của em với chuyến viếng thăm của đoàn, chỉ sau 3 ngày cơn bão đi qua mà Chị và mọi người đã có mặt tại đây rồi, và còn mang theo quà của quý ân nhân Hải Ngoại .. Thật em không biết nói gi đây để diễn tả lòng biết ơn của mình…”.  Nhân cơ hội nầy, Diệu Liên đã cám ơn sự giúp đở và hết lòng vì người nghèo khó của họ.
 

Địa điểm cuối cùng là xã Cẩm Sơn cùng huyện Mỏ Cày, đây cũng là một xã ít dân nên chúng ta chỉ cho 150 xuất, đặc biệt các hộ bị thiệt hại nặng nề. Xã nghèo và nhà cửa bị nhiều hư hại. Chúng tôi đến ân cần trao quà và không quên những lời an ủi. Tất cả nhận những món quà tình thương từ phương xa với lòng biết ơn vô hạn.

Chúng ta đã trao 1300 phần quà đến tận tay các nạn nhân cơn bão Durian số 9. Mỗi phần quà gồm có 10 kg gạo, một thùng mì 32 gói, 1kg đường, 400 g bột ngọt và 70,000$ tiền mặt, trị giá $170,000 cho mỗi gia đình. Song song với việc phát quà, chúng ta còn đi thăm các gia đình có nhà cửa hư hại nặng nề để giúp đở thêm, tạo điều kiện cho họ có cơ hội vượt qua những khó khăn ban đầu.

Bên cạnh việc phát quà cấp bách để giúp nạn nhân trong lúc khó khăn nhất, “MTNCD” thường tập trung vào những chương trình có tính cách lâu dài hơn. Vì vậy trong những ngày ở Huế, một số chương trình về bão lụt đã được lên chương trình, một số đang xúc tiến và một số sẽ được thực hiện nay mai.

1. Đà Nẳng: Phật tử chùa Bửu Nghiêm hợp tác cùng chúng ta sửa chữa và làm mới lại toàn bộ 10 căn nhà ở các thôn Hòa Khương, Phước Hậu, Phước Thuận thuộc xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang. Ngoài ra anh Phan Văn Tiến, cựu hiệu trưởng trường Hoàng Hoa Thám cùng các giáo chức sẽ giúp chúng ta thực hiện một số công việc có liên quan về cơn bão Xangsane vừa qua ở Nam Ô, Đà Nẳng.
2.  Phan Thiết:  Ni Sư Như Trí, chùa Thiền Quang, đã nhận giúp chúng ta xây lại 5 ngôi nhà bị sụp ngã sau cơn bão số 9 tại Phan Thiết. Sau khi xong 5 căn nầy sẽ lên chương trình cho 5 căn tiếp. Chương trình có khả năng thực hiện dể dàng.
 
3.  Bến Tre: Đại đức Thích Thông Lý, chùa Nguyên Chiếu, đã nhận giúp xây một cái cầu cho xã Tân Mỹ - Ba Tri, sẽ chọn địa điểm gần trường học để giúp tránh dùng cầu khỉ, gây nguy hiểm cho tánh mạng của học sinh trong mùa mưa lớn. Chương trình nầy còn lệ thuộc nhiều điều kiện chung quanh. Cơ hội hoàn tất trên 50%.
 
 4.  Bà Rịa: Anh Võ Đình Xa, cư trú tại xã Tóc Tiên, đã tiến hành làm lại 20 căn nhà bằng lá, mỗi căn chỉ có 2 triệu đồng, chúng tôi có đề nghị chi thêm tiền để làm cho vững vàng hơn, nhưng theo sinh hoạt ở địa phương nầy, mọi người đều sống bằng nhà lá vì thời tiết ở đây quanh năm nắng ấm. Đã trên vài chục năm qua người dân ở vùng nầy chưa biết bão lũ là gì, nên nhà cửa của họ rất là đơn sơ. Chương trình nầy đã được thực hiện ngay sau ngày cơn bão đi qua.
 
5.  Huế: Nhóm Tuệ Quang, nhận lời sửa lại 15 căn nhà bị hư hại và xây lại 5 căn nhà bị sụp đổ hoàn toàn. Chương trình nầy đã thực hiện được trên 50%.
 
6. Quãng Trị: Ban Từ Thiện Xã Hội Phật Giáo Tỉnh Quãng Trị đã nhận lời phụ trách chương trình cải thiện cộng đồng cho làng An Bình, xã Cam Thanh, huyện Cam Lộ. Chương trình nầy rất đa dạng, cơ hội thực hiện được rất cao. BTTXHPG Quãng Trị, Diệu Liên và đại diện dân làng An Bình đã có một buổi họp vào ngày 20/12/06 để đi vào chi tiết thực hiện chương trình.
 
A.   Tạo hệ thống nước sạch dẫn vào từng nhà cho đại đa số dân làng ở đây vì tình trạng nước uống và dùng hàng ngày bị ô nhiễm nặng nề. Người dân ở đây phải chịu bão lụt hàng năm nên rất nghèo đã mất mùa trong hai năm liền.
B.   Giúp đở hạt giống và phân bón để người dân ở đây bắt đầu trồng trọt trở lại. Lũ lụt và cơn bão Xangsane vừa qua cũng đã làm cho nông dân vùng nầy bị mất muà trắng tay.
C.   Xây dựng lại hệ thống cống để đường xá không bị lũ lụt nặng nề như hàng năm 
 
7. Nghệ An, Thanh Hóa: Anh Phan Đăng Hoè, đại diện chương trình MTNCD tại miền Trung Bắc, đã nhận lời cũng cố lại tủ sách Giáo Khoa và sách Học Làm Người cho các trường học tại đâỵ Số sách củ đã bị hư hỏng sau cơn lũ do ảnh hưởng bão Xangsane. Tiến hành sửa chữa từ 5 đến 10 căn nhà hư hại do bão lụt gây nên. Chương trình xây nhà tại đây cần thời gian, vì hiện tại miền Trung Bắc Việt Nam mưa nhiều và nặng hạt.
 
Đó là những chi tiết xin được báo cáo với quý ân nhân cho chương trình làm việc về bão lụt ở Việt Nam . Vài hàng hầu chuyện cùng quý vị, mong rằng mọi công việc cứu trợ sẽ được thành tựu viên mãn, kính chúc quý vị vô lượng an lành.
 
Huế, mùa Đông 2006
Tôn Nữ Diệu Liên
 

Trở Lại Đầu Trang

Chương trình “Bảo Trợ” người khuyết tật, cụ già neo đơn, bệnh nhân tâm thần, bệnh nhân chất độc màu da cam, là những chương trình từ thiện đầu tiên của “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời”, được thực hiện vào năm 1989, tính đến nay đã hơn 16 năm, do Ni sư Thích Nữ Như Minh và sư cô Diệu Đàm phụ trách. Trong những chuyến về thăm Việt Nam, Diệu Liên được quý  sư đưa đi thăm từng gia đình. Được tặng quà, tiền, sửa và đồ dùng cá nhân đến tận tay các bệnh nhân mà chúng ta đã cùng nhau giúp đở trong thời gian qua. Ngoài những gia đình nghèo khó nằm rãi rác ở tỉnh Quảng Trị, phần lớn các bệnh nhân nghèo khổ và tàn tật lại tập trung ở huyện Phú Vang và làng Dương Nổ, Huế.

Chương trình đã lớn lên theo tuổi của các em bé khuyết tật, các trẻ thơ bị chất độc màu da cam. Có những em, lúc chúng ta đến thăm lần đầu tiên, chưa đầy hai tuổi, được Mẹ bồng trên tay, nay thì lớn hẳn. Em Đoàn Đại Qúy, sanh năm 1990, bị mù, quê làng Phường Đông, xã Phú Dương, Huyện Phú Vang – TTH, nay đã trên 16 tuổi, Diệu Liên vẫn nhận ra em vì mỗi năm đều nhận được hình ảnh các em từ sư Như Minh,  gửi đến quý ân nhân giúp đở cac em hàng năm.
 

Nguyễn Thị Diệu, em bị câm và điếc. Khi Diệu Liên đến thăm thì em đã thành một thiếu nữ dể thương sau mười mấy năm được giúp đở. Nhưng cũng có những trường hợp tội nghiệp như cháu Trần văn Ân – sanh năm 1991, đã được giúp đở trên 10 năm nay nhưng vì bệnh tật hành hạ, dù đã 14 tuổi mà vẫn còn nằm trong nôi.

Bên cạnh những bệnh nhân vẫn tiếp tục sống để chiến đấu với căn bệnh hiểm nghèo, các em bé được lớn khôn, Diệu Liên đã được biết những người trong chương trình được bảo trợ hàng năm lần lượt ra đi.  Em Bùi Thế Dũng, bị U Não, tay chân đều bị liệt, hoàn toàn không còn cử động. Mẹ em qua đời sớm, bố lấy người vợ thứ, nên Dũng thiếu tình thương của Mẹ. Em là gánh nặng của gia đình, bố phải lo ăn và lo vệ sinh cho em, nên mẹ kế của em không thích và thường hay mắng chửi bố và em, vì vậy không ai chăm sóc cho em. Em nằm một mình trên chiếc giường tre cả ngày, không ai trở người hay cho em một hớp nước. Qúy Sư cô trong ban Từ Thiện Phật giáo thường hay đến thăm, tặng quà và trò chuyện với em. Có lần đến thăm, Diệu Liên thấy em mừng rở khi thấy quý sư bước vào nhà, em cười tươi và nói: “con tôn Sư, con tôn Sư đến thăm con!” Vì em nói ngọng nên “trôn” em nói thành “tôn”. Người dân quê ở Huế nói “trôn” có nghiã là “trông”, trông đợi. Con mắt em nhìn Sư vời vợi, miệng vẫn cười mà hàng mi long lanh nước mắt, em xúc động khi nghĩ rằng em vẫn còn được sự quan tâm của các Sư. Chổ em nằm mùi hôi nồng nặc xông lên, vì em phải đại tiện và tiểu tiện tại chổ, thế mà quý sư đã đến ngồi cạnh giường để bóp tay, cho em uống sửa và nhắc em niệm Phật A Di Đà. Hai tuần sau chuyến đến thăm của Ni sư và đoàn, em đã trút hơi thở cuối cùng với lòng yêu thương của mọi người.

Bên cạnh những hoàn cảnh thương tâm và sự khó khăn, Diệu Liên cũng được nghe nhiều tin vui với tương lai tốt đẹp.  Có nhiều cụ già, bệnh tật, con cháu đi xa tha phương cầu thực, sống một mình trong mái tranh xiêu vẹo, đã nhiều năm được chúng ta quan tâm và thăm viếng, nay con cháu đủ ăn đủ mặc đã trở về quê đưa cha mẹ già về đoàn tụ với con cháu. Một số cụ đã hảnh diện đến báo tin vui nầy và xin được ngưng sự giúp đở, và không quên giới thiệu những người bạn già cùng cảnh ngộ với mình đang chờ đợi sự quan tâm của mọi người.

Hơn thế nữa, niềm vui nhiều gấp bội khi một số anh em tàn tật đã tìm ra phương tiện sinh sống trong khả năng của mình. Anh Nguyễn Mậu Tấn, người quê làng Truồi – Phú Lộc – TTH. Sau năm 1975, Anh theo gia đình đi kinh tế mới, khi khai khẩn đất hoang, trúng phải mìn còn sót lại của chiến tranh, Anh mất hai tay và hai chân. Anh được đưa về trung tâm của những người tàn tật, và nơi đó anh theo học môn hội họa, anh dùng miệng cắn bút để họa hình, anh viết chử rất đẹp. Anh trải qua những ngày gian khổ và tủi hổ để chiến đấu với mặc cảm và sự bất lực của cơ thể tật nguyền. Đức tánh kiên nhẫn và lòng khao khác được sống cũng như tài năng  của anh đã động lòng cô giáo làng Truồi. Anh lập gia đình, kinh tế càng khó khăn hơn khi “cô giáo làng” sanh cho anh hai cháu trai kháu khỉnh, và cũng từ đó chúng ta đã tìm đến để chia sẽ những vui buồn với gia đình anh. Đến trận lũ lụt lịch sử 1999, nhiều nạn nhân và nhà cửa sống dọc theo bờ biển Thuận An bị nước cuốn trôi. Một số gia đình ở đây di chuyển về sống ở Truồi, họ có thân nhân sống ở nước ngoài, vì cái học của con cháu, họ thuê anh chị Mậu Tấn làm gia sư cho đàn con cháu trong dòng họ của họ. Từ đó anh chị Tấn ổn định được kinh tế và đã nhường phần “Bảo Trợ”của họ cho cháu Đường Thị Út, bị teo cơ tứ chi.

Anh Mậu Tấn trước căn nhà nghèo

Được quý Sư đưa đi thăm và phát quà cho các bạn nghèo trong chương trình “Bảo Trợ hàng năm”, mặc dù đã rất quen thuộc. Vậy mà sau mỗi chuyến đi, lúc nào cũng để lại trong lòng Diệu Liên một niềm thương cảm trong nhiều ngày kế tiếp. Đối diện với những hình ảnh, những câu chuyện, những hoàn cảnh mình đã nghe đã thấy tận mắt đã làm cho những khó khăn của chính bản thân mình trở thành quá nhỏ nhoi, như chỉ là một hạt nước trong biển cả mênh mông. Từ đó Diệu Liên tìm thấy niềm vui của những phước duyên mà mình đang có, thêm nhiều trân quý với cuộc đời, và không quên chia sẽ những may mắn đến với những người đang chờ đợi tình thương và sự thông cảm.

Trở về làm việc tại Việt Nam, có cơ hội đi từng nhà một, thấy rỏ hơn nỗi thống khổ tột cùng của những hoàn cảnh bất hạnh, không cho phép Diệu Liên ngần ngại, do dự khi phải trở lại gỏ cửa những tấm lòng vàng đã cùng Diệu Liên làm từ thiện trong nhiều năm qua. Với sự cố gắng của chúng ta, hy vọng sẽ làm vơi bớt ít nhiều những khổ đau của những người chúng ta có duyên giúp đở
.
Chương trình bảo trợ nầy cần được mỡ rộng hơn vì tình trạng nghèo khó và bệnh tật còn nhiều, rất mong quý ân nhân truyền đạt chương trình nầy đến với bạn bè gần xa. Chương trình bảo trợ hàng năm cho người nghèo khuyết tật chỉ có $50 US ($60 Cnd). mỗi năm, số tiền nầy dùng phụ thêm để cải thiện đời sống người được bảo trợ. Bên cạnh chương trình, thỉnh thoảng vẫn có những nguồn tài trợ bất định gửi đến quý sư cô, vì vậy các người nghèo khó vẫn nhận được một số tặng phẩm khác hàng năm   

Mọi sự giúp đở xin gởi về: Eyes of Compassion, 18 Pergola Rd. Etobicoke, On.  M9W5K6. Canada

Trở Lại Đầu Trang

Huế, ngày 26 tháng 11 năm 2005

Kính thưa quí vị!

Em tên là Nguyễn Thị Hồng 45 tuổi.
Hiện trú tại Tổ 3 - Thượng 4 - Thủy Xuân - Thành Phố Huế.

Thư ngõ hầu chuyện đến cùng quí vị về hoàn cảnh gia đình của em như sau.

Em có người con trai là Lưu Tâm Chính - Pháp danh: Nguyên Minh - Sinh năm: 1988. Trước đây em sinh cháu ra bình thường mạnh khỏe và đi học như bao đứa trẻ khác.

Bước qua năm 1997 cháu ngã bệnh tay chân yếu dần. Vợ chồng em đưa cháu đến bệnh viện Trung Ương Huế nằm điều trị 1 tháng 12 ngày không có kết quả khả quan và bệnh tình của cháu diễn biến ngày một nặng hơn. Hội đồng y khoa chẩn đoán cho gia đình biết cháu bị u não thất III, lúc đó người em như quay cuồng và trời đất sụp đổ xung quanh em điều là màu đen tăm tối. Bác sĩ khuyên nên chuyển cháu ra bệnh viện Việt-Đức Hà Nội để mổ.

Em vốn xuất thân người phụ nữ nghèo bán vé số nuôi 3 đứa con với 1 chồng ốm yếu nay đau mai ốm, anh ấy cũng cố gắng lao động nhưng sức khỏe bất thường, nên cuộc sống gia đình em gặp nhiều khó khăn, nay càng khó khăn hơn khi biết con em gặp phải căn bệnh hiểm nghèo. Vì tình mẫu tử thiêng liêng cao cả, em đã bán đi tất cả những gì mà gia đình em có được kể cả căn nhà, và vay mượn bạn bè cùng bà con từ nội đến ngoại. Để đưa cháu ra Bênh viện Việt-Đức Hà Nội mỗ, với hy vọng cháu sẽ khỏi bệnh, nhưng nào ngờ mỗ xong cháu đã hôn mê gần 3 năm và ăn bằng "ống xông dạ dày" và đã nằm liệt 9 năm nay.

Cháu Lưu Tâm Chính

Lúc đó người em hoàn toàn như tuyệt vọng nhìn con mình ngày một tiều tụy, 2 mắt nhắm nghiền sưng tấy và đầy mủ đục, chân tay đều co rút toàn thân mất đi cảm giác, kiến cắn không biết đau, nhìn con như thế em đau khổ đến tận cùng, thế mà chẳng nhận được lời an ủi thông cảm của mẹ chồng. Ngược lại, em luôn bị mẹ chồng đay nghiến bảo rằng em ăn ở ác độc, nên cháu tao mới ra nông nổi nầy.

Em từ nhỏ là đứa con hiếu học và hiền lành, em chẳng làm chi nên tội, lúc đó em không có nhà phải ở tạm nhà "bà gia" nên gánh đủ mọi chuyện.

Em lớn lên cũng tận mắt thấy được những khổ đau cũng như chứng kiến bao cảnh sinh ly tử biệt của kiếp người mà ai rồi cũng phải gánh chịu. Em lại là người con Phật dù là bậc sơ cơ tu học Phật Pháp. Trực tiếp hành ngày với cảnh khổ đau ấy nuôi con bệnh em mới thật sự tin sâu vào nhân quả và cảm nhận sâu sắc lời Phật dạy. Cuộc đời vốn dĩ vô thường và nhiều đau khổ là một sự thật. Vì thế em ngày đêm thành tâm niệm Phật, tụng Kinh Dược Sư và luôn trì niệm chú Đại Bi và trì tụng Phổ Môn tán.

Em phát nguyện cứ vào ngày 19 hàng tháng em đi Đài Quan Âm ở núi Tứ Tượng cầu nguyện và xin nước thải của Ngài về cho cháu uống. Ngày qua ngày, em chuyên cần trì niệm, lòng thương con và niềm tin về một vị Bồ Tát cứu khổ không bao giờ phai trong lòng.  Ngày đó em không bao giờ quên, đó là giây phút linh ứng và nhiệm mầu đến với em. Buổi sáng đang say sưa với lời cầu nguyện và nhất tâm trong những trang kinh xưa, Cháu bổng thức dậy và gọi em một tiếng Mẹ đầu tiên sau những năm tháng mê man, tiếng nói ngọng nghiệu và hai mắt đã bừng sáng, miệng bắt đầu hả ra được, con người em lúc đó không thể diển tả niềm vui ấy bằng lời. Hạnh phúc thay! Ngày lại ngày cháu phục hồi trí nhớ và mập hẳn ra.

Kính thưa quí vị
Vào một trưa mùa hạ cái nắng oai nồng của xứ Thần Kinh, cô Diệu Liên - anh Thuận chú Ngọc, chú Minh đã đến thăm gia đình chúng em không hẹn trước. Lúc đó em cũng chưa biết quí danh của quí vị, thấy ánh mắt thương cảm và sự âu yếm thân thiện của cô Diệu Liên với cử chỉ cúi xuống thơm vào trán cháu Tâm Chính đã để lại trong mẹ con em một niềm kính mến vô hạn. Rồi vào ngày 07/11/2005 cô Diệu Liên và chú Ngọc đến nhà cho cháu đi viện khám và cháu nhập viện luôn. Chụp Erai, chụp X quang Sọ, chụp phổi điện đồ tim và xét nghiệm mọi thứ đã làm xong, Bác sĩ cho biết cháu mổ ở Hà Nội đặt ống xông dẫn dịch đã 9 năm nên bị kẹt không thông ống dẫn dịch, bị tăng áp lực nội sọ chính vì vậy nên cháu hay đau đầu. Với hy vọng lần này mỗ xong cháu sẽ khỏe mạnh lên nhiều. Bước đầu mổ hở rồi thời gian cháu tạm bình phục chúng tôi tiến hành mỗ dao Gamma và em đã chứng kiến nhiều người đến mỗ xong em thấy họ tiến bộ nhiều nên em vui mừng lắm. Nhưng gia đình em làm gì có khả năng đó.

Từ trái sang phải: Ngọc, chi Hương, Minh, Diệu Liên, chị Hồng và cháu Lưu Tâm Chính

Ứớc mơ của người Mẹ cho con thì nhiều vô kể, nhưng ở đây ước mơ duy nhất của em là cho Cháu được phục hồi lại hoạt động và nhất là bớt đau đớn. Mỗi lúc thấy cháu đau la dữ dội, miệng luôn nói mẹ ơi cứu con với đừng để con chết con còn nhiều ước mơ chưa làm được. Nghe câu nói ấy em đau xót đến tận cùng tâm can. Nhưng em không còn làm được gì cho cháu. Nay em mạn phép kính gửi đến quí vị lá tâm thư về hoàn cảnh bất hạnh của mẹ con em. Hầu mong nhận được sự giúp đỡ hổ trợ của các nhà Từ Thiện có tấm lòng nhân ái, em hy vọng một lần nửa bàn tay từ ái của ngài Quan Âm sẽ rưới xuống những giọt nước cam lồ lên thân của Cháu, để cho mẹ con em có cơ hội được sống trong niềm hạnh phúc đơn sơ nầy.

Vòng tay nhân ái của quý vị, hơi ấm tình người của quí vị đã và sẽ xoa dịu bớt nỗi đau của gia đình chúng em. Em thay mặt gia đình thành kính tri ân vô lượng. Kính chúc quí vị luôn gặp mọi sự an lành trong Đức Phật.

Kính thư
Nguyễn thị Hồng 

TB: Mọi sự giúp đở xin ghi chú: “Bệnh nhân hiểm nghèo”

Dieu Lien

Trở Lại Đầu Trang

                                                                  Tình Cha

                                                   Tình Cha ấm áp như vầng Thái Dương
                                                 Ngọt ngào như dòng nước xuôi đầu nguồn ….


Diệu Loan và tôi đi băng qua hành lang khoa Ngoại Chỉnh Hình để tìm đến phòng cô Trần Thị Phương, 37 tuổi, quê ở thị trấn Phú Bài – thành phố Huế. Các anh chị của Phương lập gia đình và đi tha phương cầu thực tận miền Nam. Phương làm nghề chằm nón, sống với cha mẹ già, mẹ Phương lại bệnh hoạn nằm trên giường quanh năm.

Bác Trần Văn Ân, cha của Phương, năm nay được 72 tuổi, khuôn mặt hiền với những vết nhăn, da sẫm nâu vì nắng cháy. Ông cụ già đến bên tôi nói nhỏ như không muốn người khác nghe “Xin cô giúp cho cháu, cha già nuôi con gái quá khổ, mẹ nó bệnh hoạn liên miên, liệt giường liệt chiếu, nên mọi chuyện tui phải lo hết. Khổ nỗi cháu là phụ nữ, nhiều vấn đề lắm.... Tui sợ rằng rồi đây chết đi, để lại nó không chồng không con mà còn tật nguyền thì làm răng đây cô ơi, cháu phải sống ra răng đây cô!”
 

Bác Ân và Diệu Liên trước dường bệnh của Phương

Chiếc chân tàn tật của em Phương

Em Phương trên dường bệnh

Tôi lắng nghe từng lời cụ chia sẽ, lòng xúc động, tôi muốn ôm cụ vào lòng và nói với cụ rằng tôi hiểu được niềm đau khổ và khó khăn của cụ. Niềm đau trong trái tim của người cha cũng không nhỏ hơn vết thương trên hai đôi chân không còn hy vọng của Phương. Tôi nguyện trong lòng sẽ đem hết khả năng để giữ lại đôi chân của Phương nếu còn cơ hội.

Tôi được biết Phương bị tai nạn xe Honda vào đầu năm 2005, xe tông rồi bỏ chạy, để lại cho Phương đôi chân gãy và thương tích nặng trên đầu.  Thương cho con gái chưa chồng, cha mẹ già đã bán miếng đất của ông bà để lại, vay mượn ngân hàng và bà con gần xa được trên 50 triệu Việt Nam để lo chạy chữa cho con

. Bác sĩ đã chữa lành vết thương trên đầu, và đang trên nữa đường điều trị hai chân thì gia đình hết tiền. Cha đem con gái về nhà, đôi chân Phương vẫn còn những con vít và những ống Inox nằm ngũ say trong đó, âm thầm làm sứ mạng hoà bình để hàng gắn những rạng nức trên đôi xương chân của Phương.

Hôn nay Phương trở lại bệnh viện vì hai chân Phương bị nhiễm trùng nặng do cơ thể thiếu dinh dưỡng, những vết nức sưng vù đã cho mọi người thấy những đường thịt lồi ra đỏ hoe, nước mô vàng chảy dọc theo chân. Bác Ân lại đem con gái đến bệnh viện, không có lấy một xu dính túi. Phương biết hoàn cảnh và số phận của mình nên đã năn nĩ bác sĩ bệnh viện cưa hai chân bỏ đi. May mắn thay Phương gặp một bác sĩ có lương tâm, ông ta khuyên Phương bình tỉnh, ông sẽ cố gắng giúp Phương, chờ một thời gian xem sao! Trong thời gian đó các sinh hoạc của hai cha con Phương đã làm mũi lòng nhiều người chung quanh, và nhất là hình ảnh của ông Ân, đã khiến các cô y tá tìm đến các tổ chức từ thiện kêu cứu. Câu chuyện cha già nuôi con gái bị tai nạn đến tai anh em “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời”, chúng ta cùng nhau, với tình thương và niềm thông cảm, chắc chắn chúng ta sẽ cùng nhau giử lại được đôi chân của cô Phương. Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời mong mõi quý ân nhân giúp đở cho em Phương. Mọi đóng góp xin ghi chú: Bệnh nhân hiểm nghèo


                                                               Bảo Hiểm Sức Khỏe

Một người đàn ông trung niên gỏ cửa tìm gặp “cô Diệu Liên”. Anh rụt rè thả đôi dép ngoài cửa rồi đi chân đất vào nhà, ông cho tôi biết ông được sư cô Tịnh An ở chùa Tâm Ấn – Đà Lạt giới thiệu đến gặp tôi vì con ông đang nằm cấp cứu tại bệnh viện Trung Ương Huế.

Anh Lê văn Ái, người thôn An Lợi, xã Triệu Độ, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Con gái ông là cháu Lê Thị Thuý Loan, 13 tuổi, đang học lớp 8. Cách đây 3 năm, cháu Loan nuốt lốn một chiếc tằm và đến bây giờ chiếc tằm đang nằm bên cạnh lá phổi của em. Tằm rỉ rét làm em đau đớn khó chịu.  Anh Ái đưa con đến bệnh viện nằm điều trị, hút nước và sau cùng là mổ để lấy chiếc tằm tai ác ra khỏi cơ thể em. Điều trị được nữa đường thì gia đình anh Ái hết tiền, không có tiền đóng bệnh viện phí đã nhiều ngày, nên bệnh viện phải cho em Thúy xuất viện về nhà nằm chờ chết.

Hôm đó thứ Sáu, anh Ái tìm đến chúng tôi với khuôn mặt hốt hoảng, anh nói: “cô ơi! nếu tui đem cháu về lần nầy là cháu chết liền, chiếc tằm đã rỉ rét và làm mũ nhiều lần, mỗi lần như rứa gia đình tui tốn kém rất nhiều để hút mũ và nước ra, nhưng không bao giờ có tiền để mổ, nay đã 3 năm rồi, bây giờ bằng mọi giá phải cho cháu mổ mà thôi, tui không muốn đem cháu về, vì đem về lần nầy là chấp nhận cho cháu chết”

Đứng trước trường hợp như vậy chẳng biết phải quyết định như thế nào, làm sao biết sự thật nằm ở đâu để quyết định giúp. Nếu trả lời không giúp thì anh Ái phải cho cháu xuất viện ngay chiều hôm đó, rồi cảm giác của mình như thế nào nếu nghe tin cháu đã qua đời mà mình chưa một lần cố gắng.

Trong nhất thời chúng tôi đã nhanh miệng đề nghị anh Ái trở lại báo với bệnh viện là thứ hai anh sẽ có tiền lo cho cháu, trong hai ngày cuối tuần sẽ làm việc và sẽ có câu trả lời cho anh Ái là có giúp được hay không? Sau khi anh Ái rời nhà, chúng tôi gọi ngay cho anh Diêu, trưởng ban Từ Thiện tỉnh Quảng Trị, nhờ họ cho người về ngay địa chỉ nhà anh Ái, khảo sát hoàn cảnh gia đình qua bà con lối xóm và các cô giáo dạy em Loan. Sau một buổi chiều  làm việc các anh đã báo cho biết hoàn cảnh họ thật sự khó khăn mà toàn xóm ai cũng đề nghị chúng tôi cố gắng giúp qua cơn nguy hiểm nầy.

Trở lại bệnh viên - với danh nghiã là một tổ chức nhân đạo – đã hứa giúp thanh toán bệnh viện phí cho em Loan. Trong thời gian đó nhờ người làm việc với ban giám hiệu và được biết em Loan có bảo hiểm y tế học đường.  Đó là chìa khóa đã mỡ ra tất cả những cánh cửa bế tắc của tài chánh. Thật là tội cho người dân quê, họ có quyền lợi trong tay nhưng họ không hề biết. Mỗi năm học phải đóng đủ thứ tiền, trong đó có tiền bảo hiếm y tế cho con em đến trường.  Từ đó các anh em đã làm việc với bệnh viện và “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” chỉ tốn cho ca mổ của em 1,500,000$ Việt Nam tiền bồi dưỡng và thuốc trụ sinh sau khi mổ.

Hôm trở lại bệnh viên để thăm em sau khi mổ, em nở một nụ cười rất tươi để chào đón chúng tôi, em là một bông hoa đầy sức sống. Với sự giúp đở khiêm nhường của chúng ta, cũng đóng góp được nhiều ít trong hạnh phúc đơn sơ của em.

Tôn Nữ Diệu Liên

Em Thùy Loan sau khi mổ xong

Trở Lại Đầu Trang

Ắp Ủ
 

Chúng tôi lên đường khi trời còn hơi sương, Buổi sáng của xứ Huế yên tĩnh và mát mẽ làm cho mọi người dễ chịu. Ni sư Như Minh, Sư cô Huyền Chi, anh Trung – tài xế chính kiêm nhiếp ảnh , anh Hải – tài xế phụ, và Diệu Liên lên xe hướng về quốc lộ 1, trực chỉ ra Bắc. Nơi chúng tôi đến là những ngôi làng nằm sâu và dựa lưng vào vách núi, lần phát quà nầy là cho đồng bào bị lũ lụt ở hai làng Bắc Yên, Nam Yên và các vùng phụ cận.
Đồi núi trọc với những bụi cây thấp không lớn nổi. cây cối và núi đá ở đây như hình ảnh của những dân nghèo mà sự khó nhọc đã in hằn lên khuôn mặt những nếp nhăn nheo, những bé thơ ở đây cũng thiếu vắng nụ cười. Diệu Liên đã qua đây một lần vào mùa Hè năm ngoái để thực hiện chương trình học bổng cho các em mồ côi, và hôm nay do ảnh hưởng sau mùa lũ lụt; Diệu Liên lại một lần nữa được theo Sư trở lại viếng thăm ngôi làng mà không bao giờ Diệu Liên quên được.
Xe đến trường Bắc Yên lúc 4 giờ chiều, nghe đâu vì thao thức và sợ hết phần, dân làng ra địa điểm tập trung ngồi đợi từ sáng sớm. Đoàn cứu trợ đến với hai xe hàng đủ cung cấp quà tặng cho 400 gia đình nghèo, mỗi gia đình gồm một bì thư 50,000$ Vn, một cái mền, một thùng mì ăn liền, và 3 hộp sữa Ensure. Sự đói khổ ở đây ít ai có thể hiểu được nếu chưa một lần đến và tìm hiểu sâu đời sống của từng gia đình. Rất nhiều gia đình không có tiền, họ trồng trọt trong vườn, có khoai ăn khoai, có sắn ăn sắn, bầu bí ngô rau qua ngày. Gia đình nào cũng có một thửa ruộng “khiêm nhường”
Vùng đất quá xa xôi và hẻo lánh, chắc chắn chưa một lần được ai quan tâm ghé đến. Việc được báo tin có đoàn từ thiện đến thăm và phát quà là chuyện khó tin; và nếu là sự thật thì cơ hội ngàn vàng nầy không thể đánh mất được. Đồng bào đã kéo đến đông đủ 4 tiếng đồng hồ trước giờ tập trung, được các cô giáo sắp xếp ngồi ngay hàng trật tự. Bên phía đoàn cứu trợ, vừa đến nơi, anh em đã đem hết hàng quà ra để chuẩn bị cho một cuộc phát quà như thường lệ.

Phát Quà Hưng Yên

Nhưng một cuộc hổn loạn đã diễn ra ngay sau khi phát được những phần quà đầu tiên cho các cụ già đi đứng khó khăn, đoàn người bổng nhiên đứng lên và di chuyển đến gần bàn phát quà một cách đột ngột, họ không thể ngồi chờ được nữa mà đã đứng dậy để xin nhận quà càng sớm càng tốt. Có những bà cụ quá yếu, níu vạt áo “nhà tu” dài và rộng của Ni Sư Như Minh để lấy đà đứng dậy làm Sư muốn qụy xuống.
Nhiều người còn sức khỏe, lấy cớ nhà xa phải đi bộ đến xập tối mới lên được trên núi, để xin được phát sớm về sớm. Nhưng thật ra họ có suy nghĩ riêng khi thấy những nhóm người, cũng cùng hoàn cảnh như mình, không có tên trong danh sách, đang tìm đường đến địa điểm phát quà. Nguy cơ quà sẽ phải xé nhỏ để đủ phân phối cho mọi người đã làm cho họ không còn lý trí làm theo lời chỉ dẫn cuả đoàn và các cô giáo. Đồng bào đã tự ý dành lấy quà trên tay các cô giáo khi các cô giáo đang quan tâm phát cho các cụ già về trước. Cuộc hổn loạn người la kẻ hét, sân trường phủ đầy những con người khô cằn đói rách đã làm cho lòng Diệu Liên chùng xuống, nếu không phải do sự nghèo đói thì họ đã không hành động như vậy. Cái đói cái rét của họ kéo dài cả cuộc đời, ám ảnh họ và làm cho họ có những lúc không còn muốn suy nghỉ gì hơn ngoài những toan tính cho chính mình.
Màn đêm từ từ buông xuống, lòng sợ hải của con người càng lớn dần theo bóng chiều tà, thời gian phát quà trung bình cho 400 phần ở những nơi khác từ 25 đến 30 phút, mà ở đây, sau 2 tiếng rưởi khó khăn và quát tháo, chỉ giải quyết được 215 phần. Mọi người ai cũng phải nghĩ đến sự an nguy của đoàn cứu trợ. Anh tài xế Trung đã nghĩ đến cảnh không còn xe để tiếp tục cuộc hành trình, lốp xe sẽ bị đánh bể, những mãnh vụn của gương xe sẽ tung toé nằm rải rác khắp nơi, và thân xe sẽ bị cào cấu vẹt chợt. Về phía Diệu Liên, ôm một túi tiền để phát cho mọi người mà ai cũng thấy, đã làm cho Diệu Liên lo sợ sẽ có người cướp trên tay mình, Trời ơi! cây dao cắt thùng sửa Ensure sao lại nằm chành ành trước mắt mọi người vậy nè! Diệu Liên cất lẹ vào chổ kín vì không muốn nó trở thành công cụ cho những kẻ trong nhất thời thiếu suy nghỉ gây tạo thêm nghiệp báo. Sư Như Minh thì lại lo sợ cho số cụ già sẽ bị đám người dẫm đạp, máu sẽ đổ tại đây và Sư sẽ gặp rắc rối cho những chuyến cứu trợ sau nầy.
Không ai bảo ai, mọi người trong đoàn chỉ biết quay về niệm Phật, tay thì phát quà miệng thì cầu nguyện tai qua nạn khỏi. Và sự nhiệm mầu đã đến khi số mền trên bàn cạn dần. Sư Như Minh lấy lý do hết mền và xin bà con trở lại sáng hôm sau để được nhận đủ số hàng. Không biết từ đâu, 4 người đàn ông ăn mặc chỉnh tề xuất hiện, khuyên đồng bào nên giử trật tự và chính họ cũng đã phụ thu dọn “chiến trường” chận lối để chúng tôi có thể chất hàng vào xe tìm đường “trốn thoát”.
Sau khi rời khỏi đám đông nguy hiểm, đoàn cứu trợ và các cô giáo thiện nguyện đã ngồi lại để giải quyết chuyện ngày mai. Chắc chắn là phải giử đúng lời hứa, sẽ sắp xếp người ở lại để lo cho bà con. Sư và đoàn không thể ở lại để đồng cam cộng khổ với anh chị em tại địa phương, vì chúng tôi phải có mặt tại trung tâm y tế huyện Yên Định, nơi đó đang có 110 bệnh nhân mắt chờ đợi.
Ngồi trên xe, Ni Sư nói với mọi người: “trên 40 năm làm công tác cứu trợ, đoàn chưa bao chưa gặp khó khăn như lần thăm viếng bà con Hưng Yên nầy”. Qua những gì đã xẩy ra chiều hôm đó, Diệu Liên nghĩ rằng mọi người trong đoàn sẽ khó chịu về chuyến phát quà nầy. Nhưng thật là bất ngờ trước lòng độ lượng của anh em, không ai có một lời chê trách bà con, mà còn nhìn nhận rằng, trước sự nghèo đói thiếu thốn lâu ngày, họ đã trở thành những con người chỉ biết cái ăn là tất cả. Và đoàn nghĩ rằng chúng ta đã đến đúng địa chỉ, tìm đúng đối tượng để gửi gấm tình thương. Mong rằng sẽ tổ chức tốt hơn cho ngày mai, và nếu có cơ hội sẽ không quên quay trở lại, giọt nước cam lồ tưới mát lên những mãnh đất tâm đã biến thành đá núi tự bao giờ.
 

Tôn Nữ Diệu Liên - 2005

Trở Lại Đầu Trang

Thưong Mẹ
 

Được tin một anh chàng thanh niên đi bán hột vịt lộn dồn tiền chửa trị bệnh Tim cho Mẹ, anh Thuận, Minh, Diệu Loan và Diệu Liên đến chợ Đông Ba để thăm em. Trước cổng chợ với hàng ngàn người qua lại, một cậu thanh niên trẻ, tay cầm giỏ ni lông với con mắt tìm kiếm những người đã hẹn. Diệu Liên chưa hề biết mặt em, vậy mà khi nhìn thấy em Diệu Liên đã đoán được phần nào, chạy đến hỏi han và giử em lại bên đường để trò chuyện
Cậu trai đó là em Trần Quốc Tiền, sanh năm 1986, quê ở thị trấn Hoàn Lão, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tiền học xong lớp 12, thi đổ vào trường Cao Đẳng Sư Phạm Quảng Bình nhưng nhà nghèo em phải nghĩ học.
Gánh nặng gia đình đè trên đôi vai, Mẹ và em đều bị bệnh Tim cần điều trị, Tiền quyết định rời quê mẹ, nơi mà không còn một nghề gì để sinh sống ngoài nghề làm ruộng. Tiền vào Huế đi bán hột vịt lộn, em thuê một căn nhà trọ mỗi tháng 150.000$. Mỗi sáng em đi mua trứng về luộc, đến 1 giờ trưa thì em đã có mặt ở chợ Đông Ba, nếu bán không hết trứng em sẽ tiếp tục đi đến chợ An Cựu. Em còn đem theo một số trứng chưa luộc đi bỏ các quán nhậu. Rồi trở về nhà luộc thêm đợt trứng nữa để tối đến bán tại bệnh viện Trung Ương Huế. Để giữ sự yên tỉnh cho bệnh nhân, không ai có quyền buôn bán trong bệnh viện. Nhưng mỗi tối, các cô hộ lý và các y tá trực đã “bỏ lơ” cho em được bán hột vịt lộn tại giường bệnh nhân, vì ai cũng biết em đang cần một số tiền lớn để giúp Mẹ giải phẩu Tim. Để tránh mặt các chú bảo vệ, Tiền đã đem trứng vào bệnh viện bằng cái giỏ ni lông như người đi bới thức ăn cho thân nhân nằm viện.
Nhờ khuôn mặt thật thà, ăn nói lễ phép, nên nhiều người mua trứng giúp Tiền có phương tiện cứu Mẹ. Mỗi ngày em bán được từ 40 đến 60 trứng, lời được từ 20,000 đến 30.000$ vn. Gần hai tháng vừa bán vừa xin tiền, em dành dụm được 1,000,000$ Việt Nam. Em nói: “ có những người biết hoàn cảnh gia đình cháu, đã cho cháu vài chục ngàn, mỗi lần như vậy cháu mừng muốn khóc.” Khi trò chuyện với em, Diệu Liên có cảm nghĩ rằng vì sống và lớn lên trong hoàn cảnh quá nghèo khổ, em trở thành một cậu thanh niên không còn biết những đòi hỏi đơn sơ cho sự sống của mình là gì, mặt em ngơ ngát, rất thụ động, chỉ biết trả lời những câu hỏi mà người khác đặt ra cho mình. Lòng hiếu thảo của em làm cho nhiều người cảm động, một chàng thanh niên vì Mẹ và gia đình đả tất bật với nghề bán trứng lộn. Qua cuộc nói chuyện với em Diệu Liên cảm thấy em không còn nghỉ gì cho chính bản thân mình nửa, em nói rằng: “ cháu sẽ đi bán để kiếm tiền giúp mẹ chửa trị, xong rồi cháu sẽ tìm việc làm để tiếp tục lo thuốc men và cho hai em đi học”. Diệu Liên hỏi lại: “vậy cháu phải đi bán hột vịt lộn bao lâu để có đủ tiền lo cho Mẹ”. Em mỉm một nụ cười ngại ngùng: “Chắc là lâu lắm”
Cha của Tiền là ông Trần Văn Hậu, về hưu vì không còn sức làm việc, Mẹ và hai em trai bị bệnh Tim nặng, cả nhà sống nhờ vào 3 sào ruộng, số lúa làm ra chỉ đủ để giúp gia đinh ngày 2 bửa ăn. họ không đủ khả năng chiến đấu với bệnh tật. Tiền là người duy nhất trong gia đình còn có sức khoẻ để lo cho mọi người.
Sau khi em trai là Trần Quốc Chính bị Tim CIV đã được Đông Tây Hội Ngộ giúp một phần tài chánh để phẩu thuật và gia đình đã đi vay với số nợ lên đến 20,000,000$ vn. Em kế của Tiền cũng bị Tim nhưng phải điều trị bằng thuốc lâu dài. Mẹ là bà Trần thị Chắt cũng bị CIV cần phải phẩu thuật gấp với chi phí lên đến 30 triệu đồng ( 2000$ us hay 2300$ Cad) Với hoàn cảnh khó khăn, bệnh viện đã đồng ý bớt đi số tiền còn một nửa, và hiện tại chúng ta chỉ cần giúp trong khoảng 1000 US trở lại.
“Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” đã tìm đến một số tổ chức từ thiện để chia sẽ hoàn cảnh của em Tiền, và cũng không quên gửi tin tức đến quý ân nhân, mong rằng tùy hoàn cảnh của chúng ta để xem mình có làm được gì cho em không?
Mọi đóng góp xin kèm theo Email address (nếu có) để tiện việc hồi âm, và xin chuyển về:
Ton nu Dieu Lien 18 Pergola Rd. Etobicoke, Ont. M9W 5K6 Canada
 

Trở Lại Đầu Trang

Hạnh Phúc Đơn Sơ

Sau cơn mưa như trút nước và những trận gió mạnh, làm đổ ngã nhiều cây lớn bên đường. Minh và Diệu Liên được chị Hương và anh Thuận đưa lên thăm nhà bác Hai. Nhà Bác có những bậc cấp rất cao, bằng xi măng sạch sẽ. Chiếc sân nhỏ xinh xắn che mát dưới mái hiên mới làm xong, vườn cây nhà Bác xanh ngát một màu nhờ những trận mưa trong chiều qua. Khung cảnh thơ mộng bát ngát của vườn xanh và ngôi nhà nhỏ xíu trên đỉnh đồi đã tạo cho người đến một cảm giác nhẹ nhàng, an lạc. Dù đang mang bệnh nặng nhưng bác Hai luôn tìm việc để làm, Bác thích làm vườn, trồng cây ăn trái, vừa đẹp cảnh nhà, vừa có thức ăn qua ngày.

Bac Hai, Dieu Lien va Minh bên cạnh máy bơm nước của Bác

Bác Nguyễn văn Hai 72 tuổi, đang cu ngụ tại đội 6, thôn Long Hồ, xã Hương Hồ,  TT Huế.

Theo lời bác kể, trước năm 75, bác bị sỏi thận, đã được mổ cẩn thận. Cách đây hơn 12 năm, thận của Bác bị sỏi trở lại, phải mổ lại nhiều lần. Vì Bác đến bệnh viện mà không có tiền nên Bác “được” các sinh viên thực tập chửa trị cho Bác. Cũng vì nghèo, không tiền thầy tiền thuốc, vùng bụng của Bác bị nhiễm trùng nặng, ruột bị hư thối không còn phương cứu chửa. Các “bác sĩ” đã cột bộ ruột của bác bằng 2 sợi dây thép và cho xuất viện “gấp” về nhà chờ chết. Trong lúc tuyệt vọng bác đã bỏ lên núi sống một mình. Che mái tranh bên cạnh 1 nghĩa địa, đào cho mình một cái huyệt bên cạnh nhà để nằm chờ chết.

Bác cho biết trong thời gian đó bác chấp nhận cái chết từng giờ từng phút. Bác lập bàn thờ ngài Quán Thế Âm, mỗi ngày Bác niệm Phật 3 lần để được chết nhanh và chết nhẹ. Những ngày đầu lên núi, Bác không ăn uống, nằm yên bất động, nhưng lạ thay sau nhiều ngày như vậy, vết thương bị nhiễm trùng của Bác đã khô từ từ, và sau đó cơ thể của Bác tự đâm da non bọc lấy phần ruột lồi ra bên ngoài. Khối thịt dư đó càng ngày càng lớn (hình khối u trước rốn) lại rỉ ra nước vàng, nên Bác lấy bao ni lông bọc lại để giữ nước trong bao.

Các anh chị trong ban từ thiện tại Huế nhiều lần đem thức ăn khô lên “cứu đói” cho bác, bác thường tâm sự: “nhà cửa dột nát nhưng chịu khó cũng được, khổ nhất là phải đi gánh nước từ dưới núi lên chừng 500 m độ dốc , mà trong bụng đang còn dây thép củ chưa lấy ra được, cứ mỗi lần ráng sức bưng nước về dùng là nó quá đau đớn”.

Thấu hiểu được nỗi lòng của bác Hai “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” đã xin sử dụng phần đóng góp tùy hỷ của

***  G/D Vũ Xuân Hoa – ông Đặng Tấn Hùng Jr., 100$ us = 1,535,000$ Việt Nam đã giúp được

1)     - 1 máy bơm nước từ giếng hàng xóm trị giá 650,000$ Vn, và 500m ống dẫn nước trị giá  300,000 $ Vn

2)     - Lợp lại mái tôn trước hiên để Bác có thêm diện tích sinhhoạc và dựng lại vách nhà chi phí hết 585,000$ vn

Khối da non bọc lấy phần ruột bị hư

Cháu Trần thị Mỹ Hạnh, bệnh Tim

*** Nhóm Đất Việt, 500$ US sẽ giúp được

1)     - 118$ Us giúp ca phẩu thuật đưa phần ruột nằm ngoài cơthể của bác Hai vào bên trong, gắn ống tiểu tiện và lấy dây thép đang còn nằm trong bụng ra. (phẩu thuật nầy tốn vào khoảng 400 Cnd., đang cố gắng thực hiện, xin mời quý ân nhân giúp đở, đã có 118 US của Đất việt, thiếu 250 Cnd.)

2)      382$ Us được đưa vào quỹ mổ tim cho em Trần thị Mỹ Hạnh – 15 tuổi

Bác ở gần nghĩa địa, nên khi người ta đi xây mộ thường để  lại những cát, sạn, xi măng còn thừa, thì Bác xin về để tự xây bể đựng nước, đắp lại sân và nền nhà, xây các bật cấp theo triền dốc lên nhà, việc làm như vậy đã kéo dài trên 10 năm, nhưng căn nhà của Bác vẫn là căn nhà lụp xụp rách nát, cao không quá đầu người. Bác nói: “có chút mô thì tui trét vô chút nớ, khi mô xong thì xong, sống được ngày mô tui biết ngày đó, không mong cầu cái chi hết”. Dù tiếp xúc với một người đứng trước cái chết, nhưng tư tưởng không sợ hải và thản nhiên trước Tử Thần đã thu hút tất cả các mọi người

Bác ở gần nghĩa địa, nên khi người ta đi xây mộ thường để  lại những cát, sạn, xi măng còn thừa, thì Bác xin về để tự xây bể đựng nước, đắp lại sân và nền nhà, xây các bật cấp theo triền dốc lên nhà, việc làm như vậy đã kéo dài trên 10 năm, nhưng căn nhà của Bác vẫn là căn nhà lụp xụp rách nát, cao không quá đầu người. Bác nói: “có chút mô thì tui trét vô chút nớ, khi mô xong thì xong, sống được ngày mô tui biết ngày đó, không mong cầu cái chi hết”. Dù tiếp xúc với một người đứng trước cái chết, nhưng tư tưởng không sợ hải và thản nhiên trước Tử Thần đã thu hút tất cả các mọi người. Bác đã cho mọi người thấy được sự sống mãnh liệt trong Bác. Bác thích ngồi dưới mái hiên nghe tiếng mưa rơi, Bác thích chăm bón vườn cây quanh nhà, Bác làm được nhiều chuyện cũng nhờ có máy bơm nước đưa lên tận nhà, câu chuyện làm mọi người sửng sờ nhất chính là chuyện Bác đã nhờ đứa cháu (là một y tá lâu năm) dùng dao để giúp bác mổ mấy viên sạn thận của Bác, vì quá đau đớn và không có tiền đi bệnh viện nên Bác phải làm liều. Ngồi bên ảng nước trước hiên nhà, cháu Bác vừa kinh hải vừa xin Bác đừng làm cái chuyện mà không ai dám làm, nhưng cuối cùng nó cũng phải giúp Bác một tay. Bác cầm máu cho vết thương bằng cách dùng nước trong ảng mà rửa, rửa cho đến khi nào máu bớt chảy rồi Bác ngất đi. Đó là những gì Bác kể lại cho mọi người nghe, Bác lập đi lập lại nhiều lần: “ tui muốn chết lắm, mà không chết được, muốn chết không phải dể”.

Lời cuối cùng Bác nhờ Diệu Liên gửi đến quý ân nhân: “từ ngày các anh chị đến thăm, an ủi và giúp cho tui cái bể nước, rồi đến cái mái hiên che mưa nắng, tui sung sướng lắm. Tui không còn muốn chết nữa, giờ chừ tui muốn sống vì tôi không còn cô đơn, chung quanh tui có nhiều người quan tâm đến tui, tui không biết nói cái chi để cám ơn các anh chị em đã cho tiền. Tui có nhiều cây đây, các anh chị muốn lấy cái chi thì cứ tự nhiên lấy … tui tặng hết”

Đã đến giờ hẹn, mọi người rời nhà Bác Hai với những lời chia tay ân cần, dù chua xót cho thân phận của bác Hai nhưng mọi người cũng tìm thấy được những ấm áp qua cách sống đạm bạc và tươi vui của Bác

Huế - mùa lũ lụt 2005

Tôn Nữ Diệu Liên

Trở Lại Đầu Trang

Người Khuyết Thị

Xã Hưng Yên có hơn 12.000 dân, gấp 3 - 4 lần dân số một xã bình thường. Bà con ở đây có 80% là theo đạo Thiên Chúa.

Bà con ở đay sinh sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, rất cực nhọc mà không đủ ăn. Một số có sức khỏe thì hàng ngày ra thành phố Vinh để làm thuê, chủ yếu là làm nghề bốc vác, đào đất, gánh cát làm nhà - gọi là làm cửu vạn, nghề lao động chân tay nặng nhọc. Thu nhập của nhưng người làm cửu vạn mỗi ngày khoảng 15 - 20.000 đồng, tạm đủ để mua gạo cho gia đình hàng ngày. Mờ sáng họ rủ nhau đạp xe đi Vinh khi chưa thấy rõ mặt người. Tối mịt mới kéo nhau về nhà, may mắn thì kiếm đủ tiền mua gạo cho cả gia đình! Cuộc đời cứ trôi qua như thế, ngày nào cũng giống ngày nào.

Con đông, nghèo khổ, bệnh tật, thất học là nỗi ám ảnh của bà con ở đây! Người bình thường đã khổ, còn người không may bị mù lòa thì bất hạnh hơn nhiều! ở đây khó mà tìm thấy một bộ quần áo mới cho tươm tất. Học sinh đi học không có dép, mùa đông không có áo ấm, chỉ phong phanh một chiếc áo sơ mi cũ kỹ, đôi khi không còn nút áo!

Đợt mổ mắt này tổ chức tại Phòng khám Đa khoa khu vực Hưng Yên của Bệnh viện huyện Hưng Nguyên. Nhưng không phải chỉ phẫu thuật cho bà con nghèo bị mù ở Hưng Yên, mà còm khám và mổ cho những người nghèo bị mù ở các xã lân cận như xã Hưng Trung, xã Hưng Tây. Và một số người mù nghèo ở các xã thuộc huyện Hưng Nguyên như Hưng Châu, Hưng Nhân, Hưng Thịnh, Hưng Lợi, tuy ở xa Hưng Yên nhưng vẫn đưa bệnh nhân đến xin mổ.

Mọi việc tổ chức khám và lo cho bệnh nhân đều do Bệnh viện Hưng Nguyên làm. Sau khi bác sĩ chuyên khoa Mắt của Bệnh viện Hưng Nguyên đi đến tận từng xã khám chọn lọc bệnh nhân xong, lên danh sách rồi báo cho BS Hàn của Trạm Mắt Nghệ An. Khi BS Hàn sắp xếp được lịch mổ, đoàn mới phối hợp với Phòng khám Đa khoa khu vực Hưng Yên thông báo cho bà con đến mổ. Bà con đến rất đông để BS Hàn khám lại trước khi mổ.

Những người mù ở Hưng Yên hầu hết rất nghèo khổ và không nơi nương tựa. Vì thế rất khó khăn khi không có con cái chăm sóc nếu tổ chức mổ ở bệnh viện Hưng Nguyên hay ở Trạm Mắt Nghệ An. Từ Hưng Yên đến Vinh khoảng 25 km.

Hầu hết bà con đều bị mù cả 2 mắt - điều này chứng tỏ bà con rất nghèo, không có tiền đi mổ nên mù cả 2 mắt vẫn chấp nhận cảnh mù lòa như thế. Và đa phần đều lớn tuổi, phần nhiều là hơn 80 tuổi. Nhưng cũng có một số ít bệnh nhân mới hơn 40 tuổi đã bị mù do đục thủy tinh thể.

Được thông báo ngày mổ trước cả tuần lễ, nên bà con có sự chuẩn bị thoải mái. Ngày đoàn mổ mắt đến, người mù được anh em, con cháu, bà con, hàng xóm dắt đến để mổ từ sáng sớm. Có những người mù được đưa đến chờ đợi từ lúc 5 giờ sáng, vì đêm đó họ mừng không ngủ được!

Anh Phan Công Đào, 44 tuổi nhà ở xóm 10, xã Hưng Trung, cách nơi mổ 4 km, rời khỏi nhà từ lúc 1 giờ sáng. Quãng đường đó nếu người sáng mắt đi bộ thì mất khoảng 1 giờ, nhưng với anh Đào thì mất 5 giờ! Anh không ngủ được, chống gậy mò mẫm đi một mình trong đêm tối - với người mù cả 2 mắt thì ngày cũng như đêm mà thôi! Anh Đào tới nơi là 6 giờ sáng, học sinh đi học đã dắt anh tới tận nơi mổ. Anh nói đêm đó có xin vợ 50 ngàn đồng để sáng mai đi khám mắt xin mổ, nhưng vợ anh nói nhà không còn xu nào! Không muốn phiền đến vợ con, đêm khuya anh đã mở cửa chống gậy ra đi. Anh Đào có 3 con, 2 trai đã hơn 18 tuổi, thất học từ lâu, tha phương cầu thực ở miền Nam 2 năm nay chưa về. Cô con gái út 14 tuổi ở nhà với vợ chồng anh. Anh bị mù 1 mắt đã 7 năm nay, sau đó con mắt còn lại cũng mù 4 năm rồi. Chưa một lần đi khám, vì anh không có tiền. Nghe thông báo có đoàn mổ mắt từ thiện nên anh mới dám đi khám, hy vọng sẽ mổ được!

Anh Phan Công Đào và gia đình

Anh chống gậy đi mò khi mọi người đang yên giấc, nên suốt quãng đường 4 km anh không gặp ai cả. Đường nông thôn khó đi, nên anh Đào nhiều lần bị té xuống ruộng, quần áo của anh lấm lem bùn đất! Ngã xuống, anh lại đứng lên tiếp tục chống gậy đi mò! Khi nghe tiếng người đi chợ sớm, anh biết trời đã sáng. Gặp một nhóm học sinh đi học, anh hỏi đường và nhờ các em dắt đến Phòng khám Đa khoa Hưng Yên.

Chúng tôi đến Phòng khám Đa khoa Hưng Yên lúc 7 giờ, khi đó bệnh nhân đã tới rất đông. BS Hàn cùng 4 nhân viên Trạm Mắt và 1 BS chuyên khoa Mắt của bệnh viện huyện Hưng Nguyên vào làm việc ngay, với sự giúp đỡ tận tình của BS Hồng, Trưởng Phòng khám Đa Khoa khu vực Hưng Yên và 5 Y tá.

Tôi cũng lo sắp xếp, hướng dẫn cho bà con vào khám. Đến 9 giờ thì BS Hàn bắt đầu vào phòng mổ để phẫu thuật. Lúc đó tôi thấy một người đàn ông còn trẻ, chống gậy trong phòng khám đi ra, anh không khóc nhưng nước mắt giàn giụa, ướt đẫm khuôn mặt! Chưa kịp hỏi thì anh ta đã vấp phải bức tường trước mặt rồi ngã lăn ra - đó chính là anh Đào!

Tôi hỏi tại sao khóc, anh Đào nói: “ BS đã khám cho tui, nhưng nói bị mù lâu quá rồi nên không thể mổ được nữa”.

Anh Đào đã đưcợc ti đưa đi khám lại, nhưng vì bị mù đã lâu nên vô phương cứu chữa!

Tôi đã nhờ một cô giáo nấu cơm cho anh ta ăn, sau đó chở về tận nhà. Nhà anh Đào nghèo lắm, không có cái gì đáng giá 5 usd!

Đó chỉ là một trong những người nghèo bị mù mà tôi biết rõ, nhưng chắc chắn những người bị mù cả 2 con mắt mà vẫn không có tiền đi mổ thì chắc chắn phải rất nghèo.

Chỉ sau 1 tuần tôi đã có tin mừng từ Hưng Yên: Tất cả những bệnh nhân nghèo được mổ đều có kết quả tốt đẹp! Những cụ già hơn 80 tuổi đã nhìn thấy ánh sáng, thậm chí có cụ sáng mắt đến nỗi có thể xâu kim để tự may vá được! Bà Đan 83 tuổi nói với tôi rằng, bà nhìn thấy được những sợi tóc bay trước mặt!

Những tin tức này tuy đến với quý vị ân nhân hơi muộn, nhưng chắc chắn quý vị sẽ rất vui sướng khi thấy đóng góp của mình đem lại kết quả tốt đẹp.

Trở Lại Đầu Trang

Lu Nước Sạch.

Trong thời mở cửa, cơ chế thị trường tất cả vì nhu cầu cơm áo sinh tồn., con người ngày càng có nhịp sống vội vàng, bận rộn hơn rất nhiều! Trong vòng xoáy nghiệt ngã đó, sự khác biệt về giàu nghèo cách nhau không xa là bao, khoảng cách đó nhiều khi chỉ là một khu phố, một bức tường, hay một dãy nhà. Hố ngăn cách giàu nghèo này ngày càng được khoét sâu thêm giữa thành phố và nông thôn. !            

Nằm về phía Tây Nam của thị xã Hà Tĩnh, cách 7 km, chưa đầy 15 phút đi xe máy theo tỉnh lộ 27, rẽ trái men theo đoạn đường 2 km vừa được người dân đào đắp, phủ bằng đất sét: xóm 10, Tượng Sơn, Thạch Hà, thị xã Hà Tỉnh, nằm heo hút sau luỹ tre. Cả làng có trên 100 hộ gia đình, chôn vùi giữa một vùng đất thấp trũng, cằn cỗi và rất nhiễm phiền chua. Hằng năm dân làng nơi đây gánh chịu nhiều sự tàn phá khắc nghiệt của thời tiết, gió Lào nóng cháy khô hạn, mưa lũ hoành hành dữ dội! Mỗi khi mưa bão đến cả làng như một ốc đảo bị cắt đứt với mọi thông tin liên lạc bên ngoài, lối ra vào, và sinh hoạt đi lại của người dân... đến các em học sinh nhỏ đến trường học cũng chỉ có một phương tiện duy nhất là chèo thuyền nan nhỏ!

Phần đa nông dân nơi đây sống bằng nghề trồng lúa nước thuần tuý, cảnh đất ít người đông, đồng chua nước lỡ, mọi chi thu các gia đình chỉ trông chờ vào hạt thóc cũ khoai. Lúc nông nhàn hay buổi giáp hạt, may mắn cho những gia đình có sức lao động, họ lại kéo nhau lên thị xã, tập trung, chen chúc nhau ở cái gọi là "Chợ người " để tìm việc làm thuê mượn, khuôn vác, đào đất, nhằm có thêm nguồn thu nhập kiếm cân gạo nuôi sống vợ con qua cơn đói khổ..! Cuộc đời mỗi người, thế nào để được gọi là giàu có, thật hơi khó vì lòng tham con người sâu rộng và vô đáy nữa ! nhưng nếu chúng ta chú tâm, ghé Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời sẽ thấy được rất rõ nỗi cơ cực, bần cùng của người anh em đồng loại, họ thiếu từ miếng cơm ăn đủ no, cái chăn đắp đủ ấm về tiết đông giá lạnh, con cái họ ước ao có đủ tiền đóng phí tổn để được theo chúng bạn tung tăng cắp sắp tới trường.. gia đình có cái bể để chứa ít nhiều nước sạch dùng ăn uống hằng ngày..! chỉ từng ấy thôi đối với họ nhiều khi vẫn là  một giấc mơ dài...! nguồn vốn để làm Lu nước sạch cho 26 ( các ) hộ gia đình nghèo đợt này đến như một niềm hân hoan., Trong âm thầm khảo sát thực tế, sau những lần thăm dò ướm thử để có thể đi đến thống nhất giữa ba tổ thợ và các gia đình sẽ được hưởng,thoả đáng với giá ngày công,thêm tình nghĩa chòm xóm.Tất cả trong tinh thần " Nỗi buồn khi san sẽ, nỗi buồn sẽ vơi đi,niền vui khi san sẽ, niền vui sẽ tăng gấp bội.." sự chấp thuận không mấy khó khăn của các gia đình nghèo được hưởng là cho thợ ăn cơm trưa, rà soát danh sách ,thống nhất lại với các tổ thợ trên nguyên tắc là họ phải tự bỏ tiền ra mua vật liệu để làm Lu như : Xi măng, bột đá,cát...mỗi tổ khi hoàn thành xong 5 cái một báo lại ,đi kiểm tra thực hư,hay dở sẽ thanh toán.                   

Ông bà Dương Ngoi, vất vã một đời không dành dụm để xây được một cái lu nước mưa

Đối với những người nông dân : Có nhiều Ô. Bà đã rất già yếu gần 70,80 tuổi đời  như gia đình cố : Đậu Hữu,Dương Thống,Hoàng Trọng.... nhìn vào họ thật đáng thương tâm! khuôn mặt hiện lên những đường răn khổ não, lưng uốn còng xuống bởi gánh nặng của khổ đau, đói nghèo, suốt một đời mưa nắng long đong! tần tảo nuôi con, đến nay khi tuổi đã xế bóng.. vẫn là một mái nhà tranh vách đất lụp xụp. xiêu vẹo, dội nát; nền đắp bằng đất bùn đất, khi tiết trời hanh nắng thì không đáng ngại cho lắm..nhưng mỗi khi có mưa to,nước ngập căn nhà trở thành vũng lầy thật bẩn thỉu...! các gia đình trẻ mới lập gia đình  ra ở riêng cũng không mấy khả quan, như gia đình anh chị: Hùng Phương, Lê Dân, Yêu Thuỷ .... với hai bàn tay trắng, tất cả họ dựng xây tương lai dựa trên mấy sào ruộng thấp trũng.,, căn nhà của các anh chị chủ yếu lớp bằng tấm lớp Birô thấp sát đầu người, hoặc tranh tre tạm bợ cùng đàn con nhỏ nheo nhóc chung sống, mặc cho tương lai của gia đình, nguy cơ bỏ học giữa lớp, giữa cấp của con cái vẫn thường xuyên đe dọi...! trước mặt còn muôn vàn khó khăn, thế nhưng từ các Cụ già... cho đến các đôi vợ chồng trẻ dù túng thiếu đến mấy, nhằm ngày tổ thợ đến làm Lu, họ thu xếp công việc đồng áng, vay mượn tạm bợ để nấu cho thợ và những người thân đến hộ giúp có được bữa cơm nặng đũa, rôm rã hơn ngày thường...để công việc tổ thợ nhanh, gọn thì khuya hôm qua họ đã đến chở khuôn đúc, để sáng ngày lại vận chuyển vật liệu về nhà mình. Những người thân họ hàng con cháu, bè bạn cũng đến giúp công sức, điếu thuốc, bát nước chè râm ran phấn khởi, vì thế các thợ phần nào đỡ mệt hơn chút ít, nhờ sự thuận lợi của thời tiết, sự nhiệt tình của các nhóm thợ, niền vui sướng được nhân lên hoà với không khí ngày mùa đang về...cùng với những giọt nước sạch quý hiếm đầu tiên đã đến tay người dùng, sau cơm mưa rào bất chợt...!

Chi Nghĩa và căn nhà bằng đất

cháu Nguyệt con chị Nghĩa nói thật: gia đình mẹ con cháu nghèo, đã nhiều lần định vay mượn, thuê thợ cố làm được cái " Lu " thế nhưng vẫn không làm được ! hôm nay cháu vui mừng sẽ không còn cảnh phải đi xin nước sạch về nấu cơm nữa! gia đình chị Nghĩa thật nhiều khó khăn, chồng chị chết khi chị hãy còn trẻ lắm! anh ra đi để lại cho chị nhiều buồn đau, một mình với hai đứa con thơ dại, thương con.  Chị quyết ở vậy chạy xuôi ngược, kiếm tiền để nuôi con khôn lớn, nay đứa con trai đầu của chị vì nghèo thiếu đang tha phương cầu thực lâu nay không về, mẹ con chị ngày ngày vẫn tần tảo kiếm sống trên đồng ruộng, Tới chụp hình  cho gia đình Anh chị Minh Phong, họ mới  được bố mẹ cho ra ở riêng, xóm dành cho khu vườn cuối làng, gần sát bến sông, do vậy khi con nước thuỷ triều lên, anh chị lại khó nhọc bồng bế cháu nhỏ, chuyển dời gia sản chỉ có ít đồ dùng thô sơ, chăn màn cũ kĩ, giường chiếu, con lợn và mấy đôi gà lên chổ cao ráo hơn.  Anh đưa ra nhận xét thật hồn nhiên rằng: Nước mưa chứa trong "Lu " ngọt và mát lắm, vợ chồng chúng tôi từ nay sẽ  không phải đi lấy nước ở sông vừa bẩn thỉu về uống nữa vì đã có nước mưa sạch để dùng rồi..! Thông tin  chưa dài, nhưng cũng có thể mang đến với Quý Ân nhân hảo tâm để chúng ta biết rằng những đóng góp của Quý vị đối với những người nghèo thiếu tại quê nhà là niền vui, niền an ủi rất lớn! chúng ta cùng nhau chung lòng, chung tay thắp lên trong họ niền hy vọng, tin tưởng vào cuộc sống mai ngày sẽ tươi đẹp hơn....!? Tình thương yêu không chỉ phụ thuộc vào khối lượng của công việc ta đang làm...nhưng nó thực sự có giá trị  hơn là ở cường độ Tình yêu của chúng ta được gửi trao, ban tặng cho những người nghèo đói qua mỗi nghĩa cử dù nhỏ bé nhất...!

Nguyễn Ngọc Mỹ - Hà Tĩnh

Mùa Hè 2005

Trở Lại Đầu Trang

Bản Phonsavan Say

Hình ảnh của bản Phonsavan Say, qua một người bạn kể lại và một số hình ảnh, làm Diệu Liên nhớ đến những ngôi làng nhỏ xa xăm nằm sát biên giới Lào, thuộc huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình, mà đã có một lần Diệu Liên và các anh chị em cùng sư Như Minh đi thăm hỏi và phát quà cho đồng bào nghèo trong chuyến đi mổ mắt năm 2002. Nhưng những nơi Diệu Liên đã đi qua thì chưa có nơi nào có sự nghèo khổ đồng loạt như bản làng Phonsavan Saỵ

Bản Phonsavan Say. Ở ngay bên cạnh thị xã Phonsavan của tỉnh Xiêng Khoảng, nơi có Cánh Đồng Chum nổi tiếng bí ẩn,  nhưng hầu như dân Lào đã lãng quên ngôi làng bé nhỏ nghèo nàn nầy rồi, vì hỏi thì không ai biết mà tìm thì không có trên bản đồ.

Cả làng có khoảng 40 gia đình. Hầu hết là người H Mông ( người HMong nếu nhìn gần thì họ từ vùng núi phương Nam bên Trung Quốc qua Lào khoảng 200 năm nay, nhưng theo nghiên cứu sử học thì họ thuộc bộ tộc Bách Việt và nguyên thửy là một bộ tộc lớn của Bách Việt. Có  người bảo họ là người dân tộc Mèo, từ Trung Quốc xuống.). Chỉ có duy nhất 1 gia đình Việt kiều sống ở đây, gia đình nầy quê ở Lào Cai hay Yên Bái gì đó, sang Phonsavan Say từ năm 1943, lâu quá rồi, nên họ cũng không còn nhớ được nữa. Mới đây có anh Mùa Nơ Chua, 41 tuổi, người dân tộc H Mong ở Huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An cũng về đây lấy vợ, đúng là lá rụng về cội, nghèo khổ như vậy mà họ vẫn tìm về quê Hương. 

Ở đây không có điện, không có hệ thông nước, không telephone, không trường học, không trạm Y tế … hầu như không có gì hết, ngoài trừ những túp lều rách nát không đủ che nắng che mưa. 

Họ sống bằng nghề làm nương rẫy, thức ăn tìm thấy ngoài chợ của làng là những con nhái nhỏ bằng ngón tay, nấu chung với măng. Họ còn ăn cả Rêu xanh nữa! Những món ăn khủng khiếp như: Nhái, Rêu, Bọ hung, Dế, Nòng nọc ở dưới suối, Da Trâu bò phơi khô, cá thối và cả phân non trâu bò nữa ( lấy trong ruột khi người ta làm thịt )! Ai nhìn thấy cũng đều kinh hãi.

Những căn nhà ở đây phần nhiều không bằng cái lều nuôi Vịt hay thua xa cái chuồng Heo ở VN. Những cái nhà khang trang nhất cũng gía trị chỉ khoảng từ $10 đến $30 Us! Có cái chỉ là một tấm bạt để che mưa nắng.

Nơi đây không có giường ngủ hay bàn ghế, họ trải tấm chiếu rách trên nền đất để ngủ, để ăn và để cho tất cả mọi sinh hoạt trong gia đình. Vùng này lạnh lắm, ngay cả mùa Hè vẫn lạnh và cũng phải cần áo ấm, khí trời se buốt như thời tiết ở Đà Lạt của VN, có nhiều lúc có tuyết. Dân làng lại không có chăn mền và áo ấm để mặc, mùa Đông có nhiều người chết vì lạnh. Quần áo của họ đều là đồ rách đi lượm về mặc, trẻ em thiếu quần áo, những lúc lạnh nhất các em cũng chỉ có chiếc áo mỏng tanh chạy chơi khắp làng.

Trong làng có 2 quán Bún Phở, nhưng họ cho bún hay phở vô tô rồi cho nước sôi, rau muống  và một chút ớt bột vào để ăn.

Người Việt qua Lào làm ăn buôn bán cũng nhiều, đa số người nước ngoài vào tham quan đều thương mến người Lào, vì người Lào thật thà chất phác, không bao giờ lường gạt người khác. Chị Thiều Hoa, một Việt Kiều từ Pháp về du lịch các nước Á Châu, sau khi đi thăm nước Lào, chị Hoa tâm sự với Diệu Liên là ở với người Lào chị thấy an toàn và thoải mái hơn sống với người Việt Nam, mặc dù chị là người Việt Nam, hiểu và nói được một chút tiếng Việt.

Hình ảnh thiếu thốn và cái lạnh buốc da trong điều kiện sống của người dân Phonsavan Say gợi nhớ lại những ngày vượt biển của Diệu Liên. Cái lạnh cái đói hành hạ đã làm Diệu Liên hiểu sâu về những hoàn cảnh của dân làng Phonsavan Say

Với những gì mình đã đi qua và những gì mình thấy và nghe tại bản làng Phonsavan Say, Diệu Liên viết những giòng chử nầy đến với quý ân nhân, mong mõi được sự tiếp tay của mọi người để “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đơì” có điều kiện giúp đở những dân nghèo ở đây

Chúng ta được may mắn có thành viên cũng như quen biết một số các anh thỉnh thoảng đi công tác bên Lào, và cũng đã nhận lời giúp chúng ta thực hiện một vài chương trình ở đây. Thời gian thực hiện những chương trình này là 2 tháng, hoàn tất trước muà mưa đến

Trước những khó khăn của dân bản Phonsavan Say, và kinh nghiệm của chúng ta trong chương trình giúp đở dân nghèo, các anh em thiện nguyện viên sẽ cố gắng thực hiện các chương trình sau:

1)     Làm công trình nước sạch cho cả làng. Mua ống nước, thuê thợ dẫn nguồn nước suối về những bể lớn, các bể sẽ được xây nhiều nơi theo nhu cầu của dân làng.

2)     Tặng chăn mền và áo quần ấm cho ông bà già và trẻ em

3)     Trồng trọt

4)     Làm lại một số căn nhà cho những gia đình nghèo nhất đang sống trong lều

Vì khả năng giới hạn của dân làng nên chúng ta không thể thuê người tại địa phương cho công việc xây dựng nầy. Để bảo đảm chất lượng và thời gian của công trình, chúng ta đang làm giấy tờ để đưa thợ tại Việt Nam qua làm việc tại Phonsavan Saỵ. Trong vòng 10 ngày đến, các anh em tại quê nhà và nhóm thợ xây dựng sẽ rời xa gia đình nhiều tuần để giúp chúng ta thực hiện chương trình Phonsavan Say. Một lần đi một lần khó, nên chúng ta sẽ cố gắng thực hiện tối đa những gì chúng ta có thể làm trong điều kiện tài chánh cho phép

Trở Lại Đầu Trang

Niềm Đau Tuổi Thơ

Vào những ngày

 

giữa mùa Hè, nhiệt độ ngoài trời lên đến 42 ðộ C, chúng tôi gồm Thầy Minh Phú, anh Allen, anh Hứa, anh Hòe, em Lộc và Diệu Liên, di chuyển bằng xe Honda trên đường làng còn phơi đầy rơm của mùa lúa mới thu hoạch. Buổi sáng đầu tiên Thầy Minh Phú không chịu nổi sức nóng khủng khiếp, mặt trời như đang đổ lửa phía trên và bên dưới thì đường dầu bốc hơi nóng lên phả vào mặt, nên đi được một đoạn là phải dừng xe ðể Thầy Minh Phú vô tiệm nước mía trốn nắng! Thầy không mang theo mũ nón, khi Thầy ra thăm miền Trung thì khí hậu ở Sài Gòn vẫn còn mát mẻ. Vì  trong người quá nóng, chúng tôi có cảm giác khi nói chuyện hơi nóng bốc ra và mũi người nào cũng phì ra lửa! Nhưng chúng tôi vẫn lên đường, đi xuyên qua các làng xóm, ngõ ngách, tìm đến các trường học nghèo, những gia đình của các học sinh khó khăn cần được giúp đỡ.

Chúng tôi đến thăm gia đình em Phạm Thị Bích, sinh năm 1991, học lớp 6, trường Trung học Cơ sở Xá Xuân. Gia đình Bích cư trú tại Ðội 2, xã Hưng Xuân, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Chúng tôi được biết Bích qua cô Hiệu trưởng Kim Oanh. Bích được xếp hạng học sinh giỏi toàn tỉnh. Ðã hơn 1 năm, Bích không có tiền để đóng học phí cho nhà trường, nhưng vì em học quá giỏi nên các cô giáo không đành để em nghỉ học. Bích vẫn cắp sách đến lớp và học xuất sắc. Em đang nghĩ đến một ngày nào đó đành phải dang dở giấc mơ tới trường, vĩnh viễn không được trở lại lớp học! Khi đó em sẽ buồn tủi lắm, nhớ trường, nhớ bạn và những nuối tiếc... Ðó là nỗi niềm trong lòng em khi nghĩ đến chị Xuân - chị đầu của Bích - năm nay 17 tuổi, cũng là học sinh xuất sắc, nhưng vì hoàn cảnh gia đình, Xuân đã phải rời ghế nhà trường đi làm thuê cho một tiệm phở dưới phố. Sống trong hoàn cảnh khó khăn, em Bích luôn có ý thức nương tựa vào tình thương của mọi người ðể ðời sống bình thường của em ðược tồn tại. Cô giáo Oanh cho biết em Bích là học sinh ngoan, nghe lời các cô giáo, bài vở ðàng hoàng và luôn gần gũi ðể giúp cô giáo và cùng các bạn lo cho các sinh hoạt của lớp. Cô Oanh còn nói rằng, khi thấy các cô giáo thấm ướt mồ hôi sau những giờ lên lớp, Bích ðã dùng tập vở ðể quạt mát cho cô giáo, chăm sóc và nâng ðỡ bạn bè trong học tập, nên Bích ðược mọi người yêu thương.

Theo thứ tự:  Thầy Minh Phú, Anh Allen, Em Bích, và Diệu Liên

Có nhiều bữa hai chị em Thảo và Bích ăn toàn rau lang luộc chấm muối, vì nhà em không còn gạo ðể nấu cơm! Ðêm nằm xót bụng không thể ngủ ðược, nên Thảo phải thôi học rời xa gia ðình kiếm tiền phụ giúp mẹ lo cho em và bà Nội. Dù biết mẹ không đủ sức nuôi em ăn học bằng cách mò cua bắt ốc, nhưng Bích vẫn luôn mơ ước ðược cắp sách ðến trường, vì ðược ði học là niềm khao khát  của em!

Xe Honda của chúng tôi ðến tận nhà, thầy Minh Phú đã tặng em Bích một học bổng 500,000$ VN – trong ðó có 300,000$ cho học phí nhà trường, 100,000$ cho bộ sách giáo khoa, 100,000$ cho một bộ áo quần cùng với tập vở, bút mực và cặp ði học. Chúng tôi còn tặng Bích một Góc Học Tập gồm một bàn, một ghế và một cây ðèn, giá trị 180,000$ VN – 13$ Usd hay 18$ Cad. Bàn và ghế chúng tôi ðặt thợ mộc ðóng, gỗ tốt mua ðược với giá từ thiện, chúng tôi không mua bàn ghế từ chợ, vì chất lượng bàn ghế hàng chợ thấp kém dễ hư.  Mỗi bộ bàn ghế tốt, giá trị bằng 2 tô phở, có thể dùng cho nhiều anh chị em trong một gia ðình, ðược sử dụng với thời gian ít nhất là vài chục năm. Góc học tập giúp các em tránh ðược những chứng bệnh ðau lưng và có tác hại cho mắt vì thế ngồi và chiều cao của bàn ghế không ðúng kích thước.

Khi ðến nhà Bích - một căn nhà tranh tồi tàn ðược hàng xóm láng giềng làm cho. Chúng tôi ðược bà Nội của Bích cho thấy bàn học cũ của em, ðó là một cái kiềng làm giá ðể nồi, một tấm thớt bằm rau heo ðặt bên trên kiềng làm bàn và một cái ðòn nhỏ xíu ðể ngồi học! Tài sản trong nhà không có cái gì đáng giá 5 USD!

Sau những lời tâm sự của gia đình, cô giáo và hàng xóm, chúng tôi ðược biết anh Phạm Văn Hùng, cha của Bích, ðã qua ðời lúc 40 tuổi, vào năm 2001. Mẹ em Bích, chị Phan Thị Thanh, 40 tuổi, sau khi  lập gia ðình đã sanh ðược em Xuân. Vì làm ruộng không ðủ sống, nên cha mẹ ðã gởi Thảo lại cho bà Nội để đi kinh tế mới. Sau vài năm anh chị sanh thêm một cháu trai, lúc con trai ðược vài tuổi thì anh Hùng lâm bệnh nặng. Vì không đủ sức chạy chữa cho anh H ùng và nuôi con dại, anh chị đã quyết ðịnh cho con trai, anh ðược người nhận nuôi tặng 3 triệu ðể lo tiền thuốc thang chữa trị. Vài năm sau chị Thanh lại sanh ðôi hai bé gái, Bích là một trong hai em bé này. Cũng vì sống trong thiếu thốn, không đủ sức nuôi con, cha mẹ Bích lại phải cho đi một đứa và giữ lại Bích. Công việc trồng trọt ở vùng kinh tế mới quá cực nhọc, anh Hùng  phát bệnh lại, nên ðã phải ðưa vợ con trở về nhà quê cũ ở với mẹ già. Một thời gian sau anh qua ðời, do không thuốc men và sức khỏe quá yếu ðể chống lại với cơn bệnh cứ mãi đeo đuổi theo anh!

Em Bích, con Mực  và Diệu Liên trước ngôi nhà của em

Lắng nghe bi kịch đã xảy ra cho gia đình em Bích trong nhiều năm qua, thầm hiểu sức chịu ðựng và những ước mơ nhỏ bé qua ánh mắt buồn của Bích, anh Hứa không cầm ðược nước mắt, ôm em vào lòng và hai Bác Cháu cùng khóc, những dòng nước mắt ấm, hòa chung với nhau trong tình người bên hai mái ðầu bạc trắng và xanh non, khiến cho mọi người chung quanh không khỏi mủi lòng. Chúng tôi đã hứa hằng năm sẽ cố gắng tìm ân nhân ðóng góp ðể tiếp tục giúp em có cơ hội ðến trường như bao nhiêu bạn cùng trang lứa.

Chúng tôi nhớ lại lời tâm sự của anh An sau chuyến về thăm Việt Nam, ðúng vào thời gian xảy ra trận lũ lụt lịch sử năm 1999. Khi anh trở lại Mỹ, một buổi sáng cuối tuần, anh ðưa các con ðến tiệm McDonald, thức ăn bày ra ðầy bàn, nhưng các con không chịu ăn mà chỉ thích vọc phá. Nhìn con ðuổi rượt nhau chạy khắp nơi mặc cho cha mẹ vừa la vừa năn nỉ. Anh nhớ lại ðêm ngồi trong quán phở trên ðường phố Sài Gòn, anh linh cảm có người ðang nhìn mình phía sau lưng, anh quay lại thì bắt gặp đôi mắt của một em bé, thèm khát nhìn vào tô phở ðang bốc khói của anh! Em bé khoảng 12 tuổi, trên tay em còn bế ðứa em nhỏ khoảng 3 tuổi, ðứng ngoài cửa tiệm phở. Nhưng lúc anh nhìn vào mắt em thì em quay ði chỗ khác. Anh gọi em ðến bàn ăn, và gọi cho em 2 tô phở, em mừng rỡ, nuốt vội vàng những dòng nước miếng ðang tuôn ra trong miệng. Việc ðầu tiên là ðút ngay từng sợi phở nóng thơm ngon cho em bé nhỏ xíu trên tay. Sau khi cho em ăn no nê, em bé mới ăn vội hết phần còn lại, và ðể dành tô phở còn nguyên! Anh An thắc mắc, vì biết rằng em vẫn chưa no mà tại sao không ăn hết tô phở anh mua riêng cho em? Anh hỏi lý do thì ðược em cho hay là em muốn xin anh ðem về cho Mẹ ðang bị bệnh và còn một em gái ðang nằm ngoài vỉa hè với Mẹ. Cha em ðã qua ðời trong ðêm lũ lụt, khi cha phải lội nước lũ ði cột lại con heo của mẹ vào chuồng. Con heo là tài sản duy nhất của gia ðình, không thể ðể trôi ði ðược. Nhưng than ôi, người cha thân yêu ðã cùng con heo trôi theo dòng nước trong ðêm tối và không bao giờ trở lại với Mẹ và các con!

Nhìn sâu vào thế giới tuổi thơ với các hoàn cảnh khác nhau, anh luôn trăn trở và thao thức về tương lai của những mảnh ðời bất hạnh lang thang trên ðường phố. Anh ðã ðóng góp nhiều cho chương trình học bổng và góc học tập. Mỗi khi các em ở Việt Nam ðược nhận học bổng của anh,  các em viết thư cám ơn và làm bạn với con anh, anh xem ðó là những món quà anh muốn tặng cho các con trong ngày sinh nhật hay những ngày lễ lớn. Anh rất mong có thể giúp các em ði trọn con ðường học vấn, dù biết là còn đầy gian nan! Anh quan niệm rằng một người nông dân hay một người lao ðộng có học thì cách hành xử cũng khá hơn, có cơ hội ðể thoát khỏi cảnh khốn cùng và tránh ðược những thiệt thòi của một người không hề biết chữ

Ngồi trong bóng tối của gian phòng nhỏ ở thành phố West Palm Beach – Florida, tai tôi vang vọng tiếng hát trầm buồn của những ngày xa xưa sau cuộc chiến 

 

Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ,

Tuổi ấu thơ ðã mang nhiều âu lo

Ngày nó sống kiếp lang thang

Ngẩn ngơ như chim xa ðàn

Nghĩ mình tủi thân vô vàn !

Ðêm ðêm nó ngủ

Một manh chiếu rách co ro

Một thân côi cút không nhà

Thân em lá cỏ …

Vâng! thân em lá cỏ, người thân của em đã mất rồi, hoặc vì chiến cuộc hay do bệnh tật thiên tai; tai nạn đã bất ngờ ập xuống, ðã ðể lại nhiều trẻ mồ côi, bơ vơ giữa chợ đời. Chúng ta có thể làm gì giúp các em? Những hoàn cảnh thương tâm, những mảnh ðời bất hạnh, thiếu may mắn ðó ðã thôi thúc chúng tôi luôn cố gắng ðể Chương Trình Học Bổng và Góc Học Tập cho các học sinh nghèo ðược tồn tại và hoạt ðộng ðều ðặn. Công việc này khó thực hiện ðược nếu không có sự giúp ðỡ của quý vị; một lời giới thiệu của quý vị về chương trình của chúng tôi đến với các thân hữu giàu lòng nhân ái sẽ là những điều khích lệ lớn lao để giúp chúng tôi có đủ tài vật để tiếp tục con đường phụng sự,  

Tôn Nữ Diệu Liên

Những ngày nắng ấm cuối năm ở Florida - 2003

Trở Lại Đầu Trang

Quê Hương

Quê hương em ðẹp lắm

Xin anh nhớ về thăm

Ðường ði có hoa nở

Lối về không xa xăm

Quê hương em rực rỡ

Bát ngát cả trời thơ

Vườn xưa màu xanh thẳm

Mẹ cha đang đón chờ

Quê hương em khoai sắn

Lúa mạ vẫn xanh tươi

Tình người như biễn cả

Tiếng cười rộn trăng thanh

Quê hương em mầu nhiệm

Có tuổi trẻ tham thiền

Ðông dân làng nghe Pháp

Như dòng suối bình yên... ..

Tôi ðược ðọc bài thơ trên ðây của thầy viện trưởng tu viện Kim Sơn, tôi thích lắm, ðã phổ nhạc ðể hát và ðể ôm ấp hình ảnh ðẹp của quê hương.  Trở lại Việt Nam lần thứ 7 sau 22 năm sống tha phương trên ðất khách quê người, và cũng là lần ðầu tiên tôi trở lại Việt Nam một mình, thiếu vắng hình bóng của người chồng mà tôi rất ðổi yêu thương.  Chồng tôi hy sinh ở lại ðể cho người vợ trẻ lên ðường thực hiện những ước mơ ðã ấp ủ trong lòng nhiều năm tháng.  Ước mơ ðợc chăm sóc hai mẹ già trong những ngày cuối ðời và ước mơ ðược sống gần hơn với những người nghèo khó, ước mơ không chỉ riêng một mình tôi mà là ước mơ của cả hai chúng tôi.  Dĩ nhiên, hạnh phúc nào cũng phải ðổi bằng thương ðau.   Khi quyết ðịnh rời bỏ việc làm, một công việc mà tôi rất thích, phụ trách về bảo hiểm thuốc, răng và mắt cho công chức và nhân viên của toà thị sảnh thành phố Toronto - City of Toronto.  Một trong những hạnh phúc lớn nhất của công việc là tôi ðược các bạn ðồng nghiệp  thương mến và ủng hộ tôi thực hiện những ước mơ hướng về mãnh ðất khốn khổ và ðầy thương ðau mà tôi ðã sinh ra và lớn lên trong suốt quảng ðời thơ ấu. 

Một mình lên ðường, tôi nghĩ rằng mình phải trải qua nhiều khó khăn về mặt chính quyền, về sự giao tiếp và phải tự quyết ðịnh tất cả những gì xảy ðến cho tôi. Lúc ðó Mẹ Hiền Quán Thế Âm là người bạn ðồng hành, là chiếc phao trước biển trời mênh mông, ðể tôi nương tựa và nuôi dưỡng niềm tin rằng chung quanh tôi có chư Phật, chư vị Bồ Tát, cùng chư hiền thánh tăng, những người khuất mặt trong mười phương thế giới luôn luôn hộ trì và che chở tôi nếu tôi là một người làm việc từ thiện, người con hiếu dâu thảo ðúng ðạo lý.  Tôi đã phải cẩn thận khi phát nguyện làm việc, vì đã có nhiều người sau một thời gian làm Từ Thiện thì họ vô tình đã Từ đi cái Thiện của thủa ban đầu. 

Nói ðến con người 'Từ Thiện', tôi lại nhớ ðến một câu chuyện ngây ngô, và dể thương.  Nguyên là trong khi ði thực hiện chương trình mổ mắt, sau những ðợt mổ, tôi thường trở lại thăm một số bệnh nhân có tên trong danh sách, xem gia cảnh và tình trạng của mắt sáng ðược bao nhiêu phần trăm.  Trong ðiều kiện ðó tôi lại ðược biết thêm ðời sống về kinh tế của người dân quê.  Như gia ðình hai ông bà cụ già, ông thì mù, còn bà thì vừa mù vừa bị thấp khớp, ði ðứng khó khăn, hoàn toàn mất sức lao ðộng, sống với số tiền 80,000.00$ VN ($8 Can hay $6 U.S.)  mỗi tháng, ðây là số tiền hưu sau nhiều năm cần mẫn làm việc cho nước cho dân .  Có nhiều cặp vợ chồng trẻ với vài ba ðứa con nhỏ, một thửa ruộng khiêm nhường, nếu trời thương cho ðược mùa thì đủ gạo ăn, còn mất mùa thì không biết lấy gì mà sống, một mảnh vườn ðất khô cằn thiếu nước tưới, với những luống khoai lang, rau muống, bí, bầu vừa ðể là thức ăn cho gia ðình vừa là thực phẩm nấu cháo cho heo.  Nhìn qua hoàn cảnh ðó, tôi nghĩ ðến việc ðưa họ vào Huế ðể ði làm, có tiền lương căn bản hàng tháng ðể nuôi các con ăn học.

Hôm ðó anh Hoè giới thiệu vào cho tôi 4 người: chị Cúc, chị Loan, chị Châu và chị Thủy.  Nhưng trước ngày ði thì chị Cúc đã bị người chồng say rựu ðánh lúc 2 giờ sáng, lúc mà mọi người ðang ngủ say ðể không ai có thể ðến cứu chị, kết quả là chị bị anh dùng xà-beng vạch rách nhiều ðường trên mặt và bị thương trên ðầu, phải ði trạm xá chửa trị và khâu lại nhiều mũi.  Nghe tin thì buồn lắm, buồn cho kiếp ðời của người phụ nữ, buồn cho căn bệnh rựu chè bài bạc ðang có mặt khắp nơi trên quê hương ðã khổ đau lại càng ðau khổ hơn, buồn cho loài người thiếu trí tuệ vụng tu ðể mãi là nghiệp chướng cho nhau.  Tôi ngậm ngùi dùng một ít tiền trong quỹ tuỳ hỷ, nhờ người ðem ðến trạm xá ðể tặng và an ủi chị Cúc.  Ba chị còn lại vẫn tiếp tục ði vào Huế.

Khi ðưa các chị ðến bến xe, anh Hòe đã gởi một lá thư dài cho tôi, nói rỏ hoàn cảnh và khả năng của từng người.  Các chị rất lo lắng vì không biết cô Diệu Liên nào ðó là ai! có bán các chị qua biên giới Thái Lan,Trung Quốc..., vào làm chị em với Thúy Kiều của cụ Nguyễn Du không?  Anh Hòe giải thích rằng: '' chị Diệu Liên là một  người Từ Thiện, chị ði giúp những người khốn khổ, và không bao giờ hại ai hết, mọi việc ở Huế sẽ có chị ấy lo cho các chị''.  Các chị ngồi trên xe ðò vào Huế mà cứ phân vân về 'Người Từ Thiện', hai chị Loan và Thủy nói với nhau rằng: '' người Mỹ, người Nga .. .. thì ta có nghe qua, nhưng chưa từng nghe 'Người Từ Thiện',  họ là ai mà chỉ có ði giúp người chứ không bao giờ hại người, chỉ có người ở cõi trên mới sống như vậy thôi''.   Các chị lại nghĩ thêm: ''Như vậy, khi gặp 'Người Từ Thiện' thì mền (mình) nói tiếng chi, họ nói tiếng Từ Thiện mền nói tiếng Việt Nam thì làm răng hiểu ðược nhau, rồi có những lúc 'người Từ Thiện' biến mất thì làm răng mà giúp mền khi mền gặp khó khăn.. ..'.  Hai chị Loan và Thủy ðưa ra nhiều câu hỏi mà không ai trả lời ðược.  Chỉ có chị Châu là một cô giáo bị mất việc làm vì không có biên chế, thì văn minh hơn, trả lời rằng: '' ..thì người Từ Thiện cũng như người mền thôi, chỉ có khác là họ chuyên ði làm việc thiện'' nói xong chị Châu vì bị chóng mặt nên ði vào giấc ngủ thật say, ðể lại một mối lo âu lớn ðè nặng trong lòng hai chị Loan và Thủy.  Qua khung cửa, mặt trời đã lên cao, chiếu xuống những dảy núi với rừng cây xanh tươi của ðất trời xứ Việt, chiếc xe ðò vẫn chạy vun vút trên con ðường nối liền hai miền Nam Bắc; bỏ lại sau lưng các chị bao nổi nhớ thương của mái tranh nghèo và cảnh gia ðình đói khổ, để tìm ðến một thế giới mới, thế giới mà mình chưa một lần ðược biết ðến, với con 'Người Từ Thiện' lạ lùng như câu chuyện thần tiên.

Ba chị ðến Huế, tôi ra ðón các chị khi chiếc xe xích lô chở cả 3 ðổ trước cửa nhà.  Họ ngỡ ngàng trông thấy một cô bé nhỏ thó, trong chiếc váy ngắn, với mái tóc 'ðờ mi' như con trai, cười nói luyên thuyên bằng tiếng Việt ðàng hoàng, mà còn tự xưng: '' em là Diệu Liên''.  Các chị hơi kinh ngạc, răng mà không giống các nàng tiên trong chuyện cổ tích, áo màu rực rỡ thướt tha chấm ðất, tóc dài buông thả, chắc là cô tiên của thời ðại mới, của thế kỷ 21 hay chăng?  Nhưng cũng vẫn còn lo sợ, chị Loan thúc chị Châu: '' ðưa ngay lá thư của cậu Hòe cho 'Người Từ Thiện' ði, nhỡ cô ta biến mất thì biết ðâu mà tìm''.  Trời đã về chiều, tôi ðể họ nghỉ ngơi ăn uống thoải mái tại nhà, ðợi ngày mai ði nhận việc làm.  Tối hôm ðó, như thương lệ, khi có khách ðến nhà, nếu có ðiều kiện, tôi thường thích ngủ chung với người ta, ðể tâm sự và biết rỏ hơn ðời sống của từng người và hoàn cảnh sống chung quanh họ.  Mọi người ngồi lại với nhau trên bộ ngựa lớn, nói chuyện thật khuya.  Các chị kể cho tôi nghe hoàn cảnh gia đình của từng người và cuộc sống của người dân quê.  Các chị cũng kể luôn những suy nghĩ cuả các chị về 'Người Từ Thiện' và nỗi lo lắng làm tôi vừa buồn cười lại vừa thương hại. Cười cho sự ngây ngô của các chị và thương cho cuộc ðời của họ, quá khổ cực nên chỉ biết chạy gạo cho có ðược ngày hai bữa cơm, còn thế giới bên ngoài thì hình như là mù tịt.  Rồi các chị ôm lấy 2 cánh tay tôi, thay nhau nâng niu và nói: ' mát hè, mềm hè.. .. hay hè! 'Người Từ Thiện' cũng giống người mền hè'.  Vừa nhột lại vừa thương nên tôi chỉ biết cười ðể chịu ðựng và hưởng sự trìu mến mà các chị đã dành cho tôi, 4 chị em cười giòn giã hạnh phúc bên nhau.  Bên cạnh ðó tôi cũng nói cho các chị biết một vài ðặc tính của người Huế - cách ăn, cách nói, cách hành xử - tôi ðặt nặng về tánh thật thà, ngay thẳng, cần cù, nhẫn nhục.  Khuyên các chị hãy bỏ đi những tánh hẹp hòi nhỏ mọn, nhắm vào lợi ích dài lâu cho chính mình và cho con cháu mai sau.  Các chị ngồi nghe ðến ngẩn ngơ.  Bổng nhiên bầu không khí trở nên trầm lặng, mọi người nhìn nhau, thở nhẹ và mĩm cười.  Trong sự vắng lặng ðó có tiếng nói nhỏ nhưng rất rỏ của ai ðó trong các chị: '' lạ hè, ðúng là 'Người Từ Thiện' không giống người mền''.   

Nói ngày ði thì phải nói ðến ngày về.   Ngày tôi rời Canada, các bạn ai cũng trêu chọc, thách thức rằng tôi khó có thể xa chồng trên 3 tháng, vì suốt quảng thời gian trên 20 năm trong nghĩa vợ chồng, tôi và Minh chỉ có xa nhau 3 ngày, 3 ngày Minh ði dự khóa tỉnh tu.  Bây giờ bổng nhiên lại quyết ðịnh lên ðường tìm 'lý tưởng' trong 6 tháng, eo ơi! thật là ghê.  Nhưng kỳ lạ làm sao, khi về ðến Việt Nam, gặp lại quý Thầy, quý Ni Sư, quý bác và các anh chị, trong nước cũng như ngoài nước, cùng nhau lên chương trình, bàn kế hoạch và cùng nhau xuôi Nam ngược Bắc.  Tiếp xúc với nhiều hoàn cảnh không giống nhau, tôi hăng say với công việc đến lúc nhìn lại sổ tay thì mình đã xa Minh vừa tròn 4 tháng.  Bốn tháng rồi sáu tháng trôi qua, tôi lên ðường trở về Canada, buồn vui lẫm lộn khó tả.  Ðược gặp lại người chồng yêu thương là một hạnh phúc lớn, nhưng phải xa 2 bà mẹ già và bỏ lại công việc từ thiện mà tôi rất ðổi yêu thương lại là một nỗi xót xa.

Trên ðường bay về Toronto, máy bay ðáp xuống Alaska, mọi hành khách ðược xuống phi trường.  Ði thiền hành qua các cửa tiệm, một thế giới hoàn toàn khác lạ với những gì mình đã sống trong những ngày tháng qua.  Đời sống vật chất cao quá, sang trọng quá, đẹp đẻ quá.  Sự rực rỡ đã khơi dậy lòng ham muốn trong tôi, một âm thanh nào ðó trong hư không thúc dục bên tai: thế giới nầy là của ta, ta có quyền ðược hưởng những lạc thú nầy, tại sao ta lại phải sống lam lũ kham khổ như những ngày tháng qua.  Và cũng trong cùng sát na ðó, ý thức trở về, giúp tôi quay lại với nụ cười và hơi thở thơm ngon quen thuộc.  Năng lực của ý thức đã soi sáng lại trong tôi hình ảnh Mẹ Hiền Quán Thế Âm cuả tâm nguyện, luôn có mặt bên tôi trong suốt cuộc hành trình.  Lòng tôi phẳng lặng, sóng đã trở về với tự tánh của nước, phẳng lặng như tờ ðể ta có thể thấy rõ hơn bản lai diện mục của mình bên dòng suối trong và thơm ngon của dòng đời.  Bước nhẹ những bước chân thảnh thơi theo cùng dịp ðiệu của hơi thở, tôi hát thầm bài kệ

Thở vào thở ra

Là hoa tươi mát

Là núi vững vàng

Nước tĩnh lặng chiếu

Không gian thênh thang

Tôn Nữ Diệu Liên

Huế - 2002

Trở Lại Đầu Trang

Chị Tôi, Em Tôi

Mùa hè năm 2002, anh Dũng theo anh Hòe đến nhà Diệu Liên thăm và đã kể cho Diệu Liên nghe một câu chuyện của người bạn.  Dũng kể rằng: Thắng là người bạn lúc còn nhỏ, Phan Đăng Thắng, sanh năm 1978, gia đình rất nghèo, cha chết sớm lúc Thắng còn nhỏ xíu, bác Mão là mẹ của Thắng, ở góa nuôi 6 ðứa con dại, Thắng là con trai út và là cậu con trai duy nhất trong gia ðình.  Vì gia đình quá nghèo, nên các chị ðều không ðược ði học nhiều mà ðã lập gia đình sớm.  Thắng là con trai duy nhất nên gia đình luôn mong Thắng ðược ði học ðể có nghề nghiệp ðàng hoàng, không phải tiếp tục nghề làm ruộng.  

Dũng cho biết rằng Thắng ðang theo học trường Kỹ Thuật Việt-Hàn do Hàn Quốc tài trợ, Thắng học Khoa Chế Tạo Máỵ Thắng học giỏi, nhưng không dám thi Ðại Học, vì nếu thi ðậu mà không ðược ði học thì sẽ ðau khổ lắm.  Vào giờ trưa, các bạn cùng lớp ở lại trường, mua cơm bụi ăn (tức là cơm bán hai bên lề ðường nên chứa ðầy bụi của xe qua lại) ðể khỏi phải ðạp xe về nhà ăn cơm trưa giữa trời nắng chang chang hay trong mùa mưa rét mướt.  Thắng thì không ðược như vậy, vì Thắng không có 2000$ VN (20 cents Can, 13 cents US) ðể ăn trưa.  Nhà Thắng nghèo ðến nỗi nếu nói ðến tiền thì hoàn toàn không có, gia đình Thắng làm ruộng ðể có gạo ăn, thực phẩm chính là những gì trồng ðược trong vườn. Mẹ Thắng nấu cơm và ra vườn hái rau bầu, bí nấu cho 3 mẹ con ăn, cho nên nếu về nhà thì có thức ăn, còn nếu hỏi ðến 2000$ cho bữa cơm trưa thì thật là khó quá. 

Dũng còn nói rằng chiếc xe ðạp của Thắng rất cũ nên thường hay bị hư, Thắng ði học bằng xe ðạp, khoảng cách từ nhà ðến trường là 15 cây số, mỗi ngày Thắng phải đi 2 vòng, tổng cộng là 60 cây số.   Mỗi khi xe bị hư giữa ðường, dù xa ðến trên 10 cây số, Thắng cũng phải dẫn bộ xe ðến tiệm sửa xe của Dũng và không bao giờ Dũng lấy tiền.   Dũng còn nói: Thắng không có áo len, suốt nhiều mùa Ðông qua, dù trời lạnh ðến mấy, Dũng cũng chỉ thấy Thắng cong người co rút trong chiếc áo sơ mi mỏng như giấy quyến.  Thắng chịu ðựng như vậy từ lúc còn tấm bé.  Nhưng ðến năm thứ 3 của trường Kỹ Thuật thì Thắng có nhiều nỗi lo âu, không thể dùng sức chịu đựng của mình ðể vượt qua, vì khi ra trường Thắng phải làm luận án, phải ði thực tập ở các tỉnh xa khác, phải ðóng nhiều khoản tiền cho lệ phí thi cuối năm, tất cả những cái ðó phải có tiền mới giải quyết ðược.  Nói ðến tiền thì Thắng hoàn toàn bế tắc 

Diệu Liên nghe qua câu chuyện thì thật là bồi hồi, Diệu Liên làm bài tính với Dũng để biết còn bao nhiêu ngày tháng nữa thì Thắng ra trường, mỗi ngày sẽ giúp Thắng 2000$.  Diệu Liên ðã dùng 100$ Can trong phần tùy hỷ sử dụng của Xuân Nhi để nhờ anh Hòe gởi cho Thắng tiền ăn cơm trưa mỗi tháng,  ðồng thời giúp Thắng những phí tổn ðể hoàn tất năm học cuối cùng.

Trong một dịp ði ủy lạo ở một làng gần nhà Thắng, Diệu Liên ðã ghé đến thăm gia đình Thắng.  Trước sân nhà, Diệu Liên thấy một cô gái ðang dẫn con trâu ði vòng vòng ðạp trên ðống lúa khô, ðể làm rơi những hạt lúa còn sót lại.  Diệu Liên ðược người dẫn ðường cho biết ðó là cô Thìn, người chị kế của Thắng. Qua kinh nghiệm của các chị, sau khi lập gia ðình xong thì các chị cũng lại ði vào con ðường nghèo khổ như mẹ, ngày chạy lo miếng ăn chưa ðủ, nên các chị chưa bao giờ có tiền ðể lo cho mẹ và em trai ăn học.  Thìn, năm nay gần 30 tuổi, lúc còn ở cái tuổi thanh xuân, có nhiều chàng trai trong làng đến xin hỏi, nhưng Thìn không dám nghĩ xa.  Mẹ đã lớn tuổi, lại hay bị bệnh, em trai thì còn ðang ði học dở dang, công việc nhà, heo gà vịt, ðồng áng, vườn rau, giàn bầu giàn bí ai lo.  Nên Thìn hy sinh tuổi xuân của mình ðể lo cho Thắng và mẹ già, Thìn đã sống âm thầm như một bóng tối, âm thầm hy sinh, âm thầm chịu ðựng.

Nghe qua câu chuyện của Thìn, Diệu Liên cảm thấy bồi hồi và đến trò chuyện với Thìn.  Thìn rụt rè e ấp, không dám nhìn vào mắt Diệu Liên mà chỉ nhìn xuống ðất, Diệu Liên cảm tưởng như mình đang sống trong xã hội giai cấp xứ Ấn Ðộ vào thời Ðức Phật.  Thìn tự xem mình nhỏ bé làm Diệu Liên càng thêm đau lòng. Vài tuần sau ðó nhân tiện có người làng về quê Thìn, Diệu Liên gởi tặng Thìn một chiếc bóp ðựng tiền nhỏ và một lá thư dài.  Lá thư khuyên Thìn nếu có ai ðến dạm hỏi, mà ðàng hoàng thì cũng nên lập gia đình, ðừng ðể cơ hội ði qua và có thể không bao giờ trở lại, chuyện học hành của em Thắng từ nay Diệu Liên sẽ quan tâm và sẽ giúp ðỡ ðể em hoàn thành nghề nghiệp.  Sau khi người bạn ðem lá thư ðến,  vài hôm sau, anh ấy nói với Diệu Liên: “ Em ðề nghị lần sau chị ðừng nên viết thư cho ai hết, chị viết cái gì trong ðó mà làm cô Thìn cứ lấy ra ðọc hoài, và mỗi lần ðọc là mỗi lần khóc, thôi em xin can chị, chị ðừng viết thư cho ai hết”.  Sau khi gặp Thìn, Diệu Liên kể chuyện lại cho Minh, chồng của Diệu Liên và Xuân Nhi  cô em gái tinh thần.  Minh hứa sẽ giúp cho Thìn tiền ðể làm tiệc cưới nhỏ, còn Xuân Nhi thì sẽ tặng Thìn chiếc nhẫn cưới.

Trở lại câu chuyện của Thắng. Khi Thắng nhận ðược tiền ăn trưa, Thắng rất là ngạc nhiên và xúc ðộng, Thắng lớn lên ở vùng ðất mà người ta gọi là “ít Người nhiều Ma, nơi mà con người nghèo quá, và người ta không thể chia sẻ cho nhau bất cứ một cái gì hết. Hôm Diệu Liên ra làng Thắng, nghe tin Thắng tìm ðến căn nhà  mà Diệu Liên xin ở lại trong thời gian làm việc.  Thắng ðến, nhưng không vào nhà ðể gặp Diệu Liên mà ðứng tần ngần ngoài cửa, khi mời Thắng vào nhà ðể nói chuyện thì Thắng rất rụt rè, không tự nhiên.  Thắng đẹp trai, sáng suốt, nhỏ thó, có phong thái của một anh sinh viên.  Trên người mặc bộ áo quần mà Bác Triêm ở Sài Gòn gởi ra cho Diệu Liên, 7 kiện hàng ðồ bành ðể tặng cho người nghèo, và ðoàn của Diệu Liên có tặng  Thắng một bộ ðồ tây ðể ði học.  Thắng cũng như Thìn, trước mặt Diệu Liên, Thắng cảm thấy mình bé nhỏ lắm, bé nhỏ như hạt tiêu.  Khi nói chuyện Thắng không nhìn thẳng vào mắt Diệu Liên mà chỉ nhìn xuống ðất, và hai bàn tay của Thắng sờ vào những chấm ðen trên chiếc bàn ðá. Thắng im lặng suốt buổi, ðể Diệu Liên ðơn ca cả buổi tối, Thắng không nói gì hết mà chỉ trả lời những câu hỏi của Diệu Liên, anh chàng rất hà tiện lời nói, những câu trả lời của Thắng thường là “Dạ!” hay “Dạ không!”. 

Tối hôm ðó, Diệu Liên nói chuyện thật lâu với Thắng.  Diệu Liên nói rằng: trong cuộc sống mình phải có tự tin và hy vọng, Ngày nào mình còn hơi thở và máu trong tim mình còn lưu chuyển thì sự sống có mặt, và dù có phải trãi qua nhiều khó khăn, mình cũng nên trân quý và yêu thương nó.  Hạnh phúc hay khổ ðau ðôi khi không tùy thuộc vào những gì mình có , mà  tùy thuộc vào cái nhìn và nhận thức của mình về cuộc ðờì. Theo kinh nghiệm của Diệu Liên nếu muốn sống có hạnh phúc thì không những chỉ sống cho mình mà nên học sống cho người, ban trãi tình thương và rồi tiếp nhận tình thương trở về một cách tự nhiên như mặt trời mọc và lặn. Không thắc mắc, không tính toán, không so sánh.

Diệu Liên cũng nói cho Thắng biết là nếu nói ðến sự bần hàn cùng khổ thì Diệu Liên cũng đã từng sống qua trong những ngày vượt biển, Diệu Liên cũng ðã trải qua những ngày tháng khốn cùng, đã phải chịu đựng nhiều ngày ðói khổ, ðói ðến nỗi chỉ còn nằm dài với những hơi thở yếu ớt, chờ tử thần ðến rước ði.  Sau 2 ngày vượt biên, lên ðênh trên biển ðộng, ði HongKong, ghe Diệu Liên tấp vào ðảo Hải Nam, Minh ðã ði “mượn” lon sữa bò Ông Thọ của gia đình chủ ghe cho Diệu Liên một ngụm sữa.  Nhờ ngụm sữa ðó mà Diệu Liên ðã sống sót cho ðến ngày hôm nay.  Những ngày tháng ðau thương ðó không những ðã không làm cho Diệu Liên chán nãn vơí cuộc ðờì, mà nó lại còn làm phân bón cho cây trái hạnh phúc sau nầỵ.  Những ngày ở  trại tỵ  nạn là những ngày làm kiếp không nhà, không gia ðình, không tiền bạc..  Và  bây giờ hai tài sản quý nhất trong ðờì Diệu Liên là Người Chồng tuyệt vời và một khối Bạn tốt bụng;  như lời anh Hoè diễn tả về Nhi, một trong những người bạn của Diệu Liên: “Tấm lòng của Xuân Nhi lớn như một dòng sông mà chiếc đò có thể chèo trong ðó ðược”.  Không phải chỉ có Xuân Nhi, mà Diệu Liện có rất nhiều người bạn quý, tấm lòng của họ rộng lớn như ðại dương, như chị Kim, anh Ngọc Danh, chị Như Tuyền va quý ân nhân đã và ðang cùng Diệu Liên ðem niềm hy vọng ðến cho những người cùng khổ. 

Diệu Liên khuyên Thắng ðừng bao giờ sợ khổ và nghèo vì những người giàu có chưa chắc ðã có hạnh phúc.  Chỉ sợ mình vì nghèo khổ rồi làm những chuyện không đẹp, những chuyện này sẽ  ảnh hưởng suốt cuộc ðờì  còn lại của mình, có lúc lại ðể lại sự ăn năn và hối hận trong lòng mình mãi mãi. 

Những ngày Diệu Liên còn ở lại trong ngôi làng nghèo ðó, sau giờ học về, Thắng thường hay qua thăm Diệu Liên, nhưng em chỉ ði vòng vòng ngoài vườn ðể biết chị Liên ðang làm việc trong nhà mà  không vào làm phiền chị, hai chị em biết sự có mặt của nhau nhưng không cần phải nói với nhau một lời nào.  Diệu Liên khuyên Thắng cố gắng học hành cho ðàng hoàng, sau khi ra trường, ổn ðịnh ðược công việc, Thắng sẽ phụ với Diệu Liên trong những công tác từ thiện tại ðịa phương, gởi tình thương ðến những làng quê nghèo, nơi có những mảnh ðời bất hạnh như chị em mình đã ði qua.  Thắng rất xúc ðộng, sẽ cố gắng làm nhưng khó quá vì trong mắt Thắng đó là việc làm của Thánh Nhân mà người Phàm nhý Thắng không bao giờ có cơ hội.   Nhưng Thắng ðã lầm rồi, vì trong Thánh có Phàm mà trong Phàm có Thánh.

Hôm nay trở lại Việt Nam, một niềm vui lớn cho Diệu Liên và cũng cho tất cả quý ân nhân đã ủng hộ liên tục các chương trình từ thiện tại quê nhà khi anh Hoè báo cho hay Thắng ðã tốt nghiệp ngành Chế Tạo Máy, với số ðiểm cao, nên trường ðã giới thiệu Thắng ðến làm việc tại Khu Công Nghiệp Liên Chiểu, Ðà Nẵng, nhà máy sản xuất thép; với số lương trên 1 triệu ðồng VN mỗi tháng.   Thắng rất sung sướng, trở về quê ăn Tết, ðã ðem tiền dành dụm về ðể lo thuốc thang cho Mẹ già và giúp ðỡ gia ðình các chị. 

Năm 2006, Diệu Liên và Minh, trong dịp về Nghệ An thực hiện chương trình “học sinh mồ cồi”, đã ghé qua nhà Thắng. Mẹ Thắng bệnh tình đã khá nhiều, chị Thình của Thắng đã lập gia đình.

Niềm vui lớn khi thấy Thắng đã mượn được tiền ngân hàng để làm lại ngôi nhà khang trang cho vợ chồng chị Thình, tiếp tục lo cho tuổi già của Mẹ

Hình từ trái sang: cô giáo Liên, chị Thình, Mẹ Thắng, Diệu Liên và Minh

Năm nay nhà Thắng nấu nồi bánh chưng ðầu tiên sau bao nhiêu năm dài tăm tối kể từ ngày Cha Thắng qua ðời. Mẹ và Thắng ðã ðem một cặp bánh chưng ðến tặng gia đình anh Hoè và gởi lời cám ơn sâu xa ðến quý ân nhân trong chương trình “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời".   Với ý chí và sự cần cù kiên nhẫn của Thắng và món quà nhỏ 100$ Can  của Xuân Nhi, cuộc ðờì Thắng bắt ðầu bước sang một ngã rẽ mới. Từ nay Thắng có thể giúp gia đình và các chị thoát khỏi cảnh bần hàn.

Mới đây, Mẹ Thắng đã nói với anh Hòe:  Thắng làm việc ở Ðà Nẵng nghe nói cũng gần Huế, khi nào anh ði công tác Ðà Nẵng nhớ ghé thăm nó và cho nó xin ðịa chỉ Mẹ của chị Diệu Liên. Ðể khi có dịp thì nó ghé thăm bà cụ, và khi bà cụ sống trọn tuổi trời ðể nó ðến viếng và hương khói cho bà cụ. Gia ðình tui không bao giờ quên ðược những người ðã giúp nó nên người và có ngày hôm nay!.

Khhông đi đâu, không về đâu 

Không trước mà cũng không sau

Cầm tay nhau, mến thương nhau 

Rồi chia tay cũng không sầu  

Vì trong Bạn có Tôi rồi  

Cũng như Bạn là Tôi   

Vì trong Bạn có Tôi rồi  

Cũng như Bạn có trong tôi   

No coming - No going

No after - No before

I hold you, close to me

I release you, to be so fee

Because I am in you

And you are in me

Huế trong những ngày vào Xuân 2003

Tôn Nữ Diệu Liên

Trở Lại Đầu Trang

Anh Hài

Câu chuyện những chàng trai từ bỏ ý niệm xây dựng mái ấm gia đình cho riêng mình, chọn cuộc sống ðộc thân ðể ðược hy sinh trọn vẹn cho tha nhân, ðã gây một ấn tượng sâu ðậm trong lòng Diệu Liên, Diệu Liên đã tìm ðến họ ðể học hạnh yêu thương của những vị Bồ Tát ðang hóa hiện khắp nơi.

Trời rạng sáng, Diệu Liên cùng Nhiệm lên ðường ði thăm nghĩa ðịa của các hài nhi ðã bị cuộc đời từ chối ngay khi hình hài chưa thành tượng.  Anh Tống Viết Hiếu, sanh năm 1964.  Anh Hiếu còn ðược gọi là 'Anh Hài', danh từ “Anh Hài” ðược gọi như một sự tôn trọng các hài nhi vô tội bị cuộc ðời từ chối.  Các anh chị ðã xem các hài nhi như những người thân của mình, những bậc anh chị ðáng ðược tôn quý.  Lúc còn là một sinh viên, ngày hai buổi cắp sách ðến trường, anh ðã ðược các anh em trong nhóm thiện nguyện giao phó trách nhiệm chôn cất những thai nhi bị phá bỏ từ bệnh viện Trung Ương Huế, bệnh viện khu vực 3 và các phòng mạch tư.  Vì nhà anh Hiếu nằm tựa lưng vào chân núi nên anh có một quả ðồi mênh mông ðể làm nghĩa ðịa cho thai nhi, thuận tiện trong việc chăm sóc và nhang khói. Thường sau khi phá, những thai nhi nầy bị vứt bỏ ði như một loại rác vô thừa nhận, có một giai ðoạn người ta còn đi xin thai nhi về làm thức ăn cho heo.  Nên các anh chị em trẻ ðã liên hệ với các y tá ðể xin nhận thai nhi, nếu có thể xin luôn tên mẹ của em bé thiếu may mắn, hy vọng sẽ có một ngày, vì lý do nào đó thân nhân muốn tìm lại thì các anh chị vẫn có những thông tin cụ thể.

Lúc anh Hiếu còn là sinh viên, mỗi ngày sau khi tan học đã ðến bệnh viện, gặp các chị y tá ðể xin nhận thai nhi, ðem về làm lễ và chôn cất ðàng hoàng.  Anh Hiếu bỏ tất cả những thai nhi vào trong một cái tiểu nhỏ bằng gỗ, chở bằng xe ðạp, lên bến ðò Bình Điền ðể qua sông.  Nhà anh Hiếu ở bên kia sông.  Có hai con ðò qua sông.  Một chiếc đò chỉ dùng ðể ðưa khách sang sông của một cụ già, chiếc ðò nầy thì bằng lòng cho Hiếu cùng tiểu của các hài nhi lên đò.  Một chiếc đò khác là của một gia đình sống trên đò, và cũng dùng ðò làm phương tiện kiếm sống, thì không dám cho Hiếu ðưa tiểu thai nhi lên vì sợ vía của những vong linh bé nhỏ đó.  Những lúc gặp phải chiếc đò của gia đình nầy thì Hiếu phải lấy áo mưa bọc chiếc tiểu rồi ðể lên ðầu bơi qua sông, nhưng vào mùa lũ lụt, anh Hiếu không thể bơi ðược trong dòng nước chảy xiết, thì chủ ghe cho anh kết bè chuối, bỏ chiếc tiểu lên bè rồi kéo theo sau ghe. Ðó là một việc làm ðầy tình thương, chỉ có lòng Từ Bi Lớn mới giúp anh Hiếu vượt qua tất cả những khó khăn và thử thách,  biến tình thương thành hành ðộng.  Ðối với Diệu Liên, dù là người phụ nữ, công việc nầy thật khó ðể thực hiện được.  Hình ảnh của một nam sinh viên hy sinh cho công việc như vậy lại càng khó tin nếu không ðược tận mắt thấy rõ việc làm của các anh. 

Anh Hiếu đến thăm nhà Diệu Liên

Ngày tháng trôi qua, Hiếu ðã ra trường, nhưng vẫn chưa ði tìm việc làm vì không ai thay thế vị trí Anh Hài cho Hiếu.  Thêm vào ðó, mỗi ngày tiếp xúc với công việc, sống gần và chăm sóc các Anh Hài, làm cho Hiếu yêu thích việc làm của mình, mặc dù không ðược một món tiền thù lao nào cả.  Nếu ði tìm việc làm ở thành phố thì anh không những phải bỏ mẹ già trên 70 tuổi một mình không ai chăm sóc, mà các Anh Hài thiếu may mắn không ðược cuộc ðời thừa nhận nầy sẽ ði về ðâu.  Gia ðình anh ta chỉ có một mẹ một con, chị gái của anh Hiếu đã đi xa xứ theo chồng.  Anh đã quyết ðịnh ở lại vườn trái cây của cha ông ðể lại dùng làm phương tiện sinh sống và nuôi dưỡng mẹ già, phục vụ các Anh Hài.  Hôm hai chị em Nhiệm và Diệu Liên lên chơi, mẹ anh Hiếu có nói:  thằng Hiếu con tui là con trai duy nhất, lại không chịu lấy vợ, sau ni tui chết hắn ở với ai? Ai lo cơm lo nước cho hắn?   Diệu Liên ân cần ôm bà Mẹ Việt Nam âu yếm mói đùa:   'sau ni mệ qua ðời con và Nhiệm sẽ lên ở với anh Hiếu, con lo việc nhà, Nhiệm lo trồng cây tưới nước, mệ ðừng lo, tụi con sẽ chăm sóc cho nhau, anh Hiếu sống cho mọi người thì mọi người sẽ sống cho anh'.

Mẹ anh Hiếu và Diệu Liên trong vường cây nhà anh Hiếu

Chương trình ðược thực hiện từ năm 1992, ðến nay theo thống kê thì các anh chị thiện nguyện trẻ đã chôn cất lên ðến 20,000 thai nhi.  Mỗi em ðược bỏ vào một om ðất, ðược dán rất kỹ ðể tránh các thai nhi mà cha mẹ bị các loại bệnh truyền nhiễm như bệnh AIDS,  và có ðính kèm ngày sanh cùng tên người mẹ nếu có, và những om ðất ðó ðược bỏ vào một chiếc tiểu 40 x 60, mỗi ngày chôn một tiểu từ 2 ðến 20 em.  Mỗi om ðất là 3000$ VN ( 20 cents USD hay 30 cents Cad), mỗi tiểu giá từ 40,000 ðến 50,000$ VN.   Có nhiều giai ðoạn không có ðồng nào trong túi ðể mua om, anh Hiếu phải xin những bao thuốc lá ba số 5 hay con ngựa bằng giấy cứng làm tiểu, những lúc như vậy thì khó chịu lắm, vì để lâu bìa giấy sẽ bị thấm ướt và bốc mùi.  Anh Hiếu cho biết làm việc nầy phải thương các em lắm mới chịu nổi nùi hôi tanh bốc lên mỗi khi vác các em trên vai, leo lên những triền dốc của con ðường ðến nghĩa ðịa.  Sau nhiều năm làm việc, giờ ðây mỗi mùa hè nắng cháy người, bàn tay Anh Hài lại bị lột từng lớp da, không biết có phải bị chất ðộc phá hoại không?  Mỗi tiểu là một ngôi mộ bé tí teo, xây bằng 5 viên tạp lô, có ghi lại ngày tháng năm. Có những em mà các anh chị xin giữ lại ðược tên mẹ thì chôn cất riêng một nơi, sau nay nếu thân nhân muốn nhận về thì sẽ có ðủ thông tin ðể cho các bà mẹ lầm lỡ ðược ðưa con về.  Có những em mà người mẹ không muốn lưu lại thông tin thì sẽ ði vào nghĩa ðịa  VÔ DANH.   Ðể ðóng góp việc mua om và tiểu, ðồng thời khuyên khích việc làm của các em, Diệu Liên ðã gởi số tiền: Vũ Thị Kim 100$ Can, Nhận Ngộ 200,000$ VN ðể mua thêm om, và 100$ US của cháu Bảo Nghiêm ðể xây mộ cho các em.

Sau khi ði thăm và thắp nhang từng mộ phần của 20,000 hài nhi, 3 chị em Diệu Liên, Hiếu và Nhiệm ðã trở về vườn cây ăn trái, ngồi dưới gốc cây Dâu Tiên cùng nhau chia sẽ những trái dâu ngọt lịm, những múi mít ráo, những trái chuối vỏ mỏng dính.  Dưới gốc cây, Diệu Liên ðược Hiếu và Nhiệm cho biết ða số những người mẹ phải phá thai là những bà mẹ ðã có ðông con hay nghèo quá không thể nuôi thêm nữa, những bà mẹ có người chồng vô trách nhiệm với con cái và gia ðình, những sinh viên học sinh xa nhà cô ðơn nhớ gia ðình, những cô sinh viên ở nội trú học kém và ðược các bạn nam giúp ôn bài vở; những công nhân viên nhà nước nếu có ðứa con thứ 3 thì sẽ bị mất việc; những mối tình không ðược cha mẹ chấp nhận, những người yêu nhau mà lại có quan hệ bà con xa; những người phụ nữ ði buôn nuôi chồng con, bị thuế vụ bắt hàng nên phải " hối lộ" bằng thân xác ðể hàng không bị tịch thu; hay những người ði buôn ðường xa muốn ðược bảo vệ thì phải dể dãi với các anh tài xế.  Có rất nhiều bà mẹ lầm lỡ sau khi phá thai xong, lương tâm bị cắn rứt, lên tìm lại nấm mồ con và ngồi khóc hàng giờ.  Cũng có người lên tìm Anh Hài vì các em thường về báo mộng.  Và cũng có người sau khi làm ăn khá giả ðã thương ðứa con vô tội nên xin về ðể chôn cất thờ phụng ðàng hoàng.

Hạt lúa Bồ Tát

Hôm tháng Năm vưà qua, Diệu Liên ra Nghệ An làm việc với Thầy Minh Phú, anh Allen, và anh Hòe. Cả nhóm di chuyển qua nhiều làng, xã, thôn nghèo suốt ngày bằng xe Honda, ði ðến tận nơi những hoàn cảnh ðói khổ và khó khăn ðể ðược chứng kiến tận mắt. Ngày ði ðêm nghỉ dưới ánh nắng mặt trời chói chang và sức nóng khủng khiếp của những cơn gió Lào. Mỗi buổi sáng trước giờ rời nhà, Diệu Liên thường thức dậy thật sớm, ði thiền hành trên những bờ ruộng. Hai bên xanh rì những cây lúa, nặng trĩu những hạt lúa cuối mùa. Ðẹp lắm, có lẽ ðó là giờ phút hạnh phúc nhất của Diệu Liên, giờ phút an lành và thảnh thơi.  Khung cảnh thanh bình của những mái tranh nghèo vẫn còn nằm trong sương mai, những thửa ruộng nằm ngăn nắp thứ tự nhắc nhở ý nghĩa chiếc Phước Ðiền Y của Phật tổ trao truyền, những cơn gió nhẹ thoáng qua mang theo mùi thơm của lúa.  Diệu Liên ðã ðứng lại, nhắm mắt và hít thở thật sâu, ðể hưởng trọn hương vị thật thơm và thật ngon của hương ðồng cỏ nội, khó có thể tìm ðược ở vùng thành thị xa hoa. 

Trước khung cảnh hòa bình an lạc, Diệu Liên không quên thầm niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, Ngài luôn hiện hữu trong Diệu Liên trên mọi nẻo ðường mà Diệu Liên đã đi qua.  Diệu Liên ngừng lại, ðứng nhìn thật lâu và Diệu Liên mỉm cười với những hạt lúa chín, tròn trịa rung rinh trong gió như ðang vẫy gọi ðón chào Diệu Liên. Một cảm giác lạ lùng ðến với Diệu Liên.  Những hạt lúa trước mắt trong ðồng lúa mênh mông bát ngát bỗng dưng trở thành những vị Bụt và Bồ Tát ðang mỉm cười với Diệu Liên, hằng hà sa số chư Bụt và chư vị Bồ Tát ðang có mặt trong Diệu Liên.  Cảm giác nầy thật là lạ lùng khó diễn tả, Diệu Liên như nín thở ðể giữ lại thế giới Cực Lạc ðó trong tâm mình ngay trong giờ phút hiện tại.

Thở một hơi nhẹ, trở về với thực tại của cuộc sống, rời xa khỏi thế giới mầu nhiệm.  Về lại nhà, chuẩn bị lên ðường cùng ðoàn ði làm việc, ngồi sau yên xe anh Hoè chạy qua các ðường làng, Diệu Liên kể lại cho anh ta nghe niềm vui của Diệu Liên trong lúc ði thiền hành.  Diệu Liên khéo léo nhắc nhở anh rằng:  Anh là một hạt lúa trong thửa ruộng Bồ Tát, nếu mảnh ðất 'ít người nhiều ma' nầy có thêm một vài anh Phan Ðăng Hoè nữa thì hoàn cảnh của người dân sẽ ðược thay ðổi, sự nóng bức của tham sân si sẽ bớt ði, nhường chỗ cho sự tươi mát.  Hình ảnh 'Anh Hài' Hiếu cũng là một hạt lúa Bồ Tát, chưa kể ðến các em Nhiệm, Khả, Kính, Tuệ, Loan...   Các em là bạn của Diệu Liên và cũng là những người thầy dạy cho Diệu Liên hiểu sâu thêm con ðường hiểu và thương, con ðường phụng sự cho tha nhân.  Mặc dù phải xa Minh (Chồng D. Liên) trong thời gian làm việc tại Việt Nam, nhưng Minh và Diệu Liên luôn tìm ðược hạnh phúc bên cạnh những người bạn quý, luôn đem niềm vui và tin yêu cho mọi người.  Bây giờ nhớ lại trong một bài pháp thoại, thầy Nhất Hạnh có dạy rằng:  Bồ Tát không phải là những vị ở một thế giới xa vời nào ðó mà chúng ta không bao giờ sờ ðến ðược.  Bồ Tát có thể là một người bên ðường, một bà cụ già, nhỏ thó, áo quần ðơn giản ðang ði trên ðường phố Paris.  Nếu chúng ta không có con mắt chánh niệm thì chúng ta không bao giờ tiếp xúc ðược với họ.

Tôn Nữ Diệu Liên

20 tháng 6 năm 2003

Trở Lại Đầu Trang

Những Cuộc Đời Khốn Khổ

Tháng 9 năm 2002, một trận lũ quét kinh hoàng ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Nhiều xã bị thiệt hại nặng nề, nhưng ghê gớm nhất là ở xã Sơn Kim, giáp biên giới Lào; có hàng trăm ngôi nhà bị cuốn trôi, xóm 9 ở Nước Sốt biến mất không để lại dấu tích, chỉ còn một bãi đá trắng như xương người, làm cho tôi nổi gai ốc; nhiều người bị chết và hàng trăm người chịu cảnh màn trời chiếu đất! Những người dân thoát chết trong gang tấc đứng ngẩn ngơ nhìn bãi đá mà chiều qua ở đây còn là ngôi làng,  họ không thể tưởng tượng nổi sức mạnh và sự tàn phá của Bố Già thiên nhiên!

Khi tôi đến đây, nước lũ đã rút nhiều, cây cối, rác rưởi còn ngổn ngang; núi sạt lở, quốc lộ 8A bị trôi mất nhiều đoạn, bùn lầy đọng lại trên đường dày tới nửa mét; trâu bò, hươu bị chết nổi xác lềnh bềnh! Bà con bị trôi nhà đang che lều tá túc bên lề đường quốc lộ 8A. Có một thi thể đàn ông bị lũ cuốn trôi  chưa có người nhận và 6 người bị núi lở chôn vùi dưới hàng nghìn mét khối đất chưa tìm được thi thể.

Hoàng hôn xuống, tôi quay về thị trấn Tây Sơn để trú ngụ. Trời chiều se se lạnh, bên đường  một ông già tóc rối, lưng còng, mặc quần đùi cởi trần, chân đi đất với vẻ mặt thất thần đứng bên đường. Hỏi thì được biết lũ đă cuốn trôi hết tất cả đồ đạc trong nhà ông. Dù vẫn còn may là nhà chưa bị mất, nhưng vẻ mặt ông ta hết sức buồn khổ. Tôi ngỏ ý muốn vào thăm, ông dẫn về căn nhà gỗ thấp nhỏ ở sát bên sông Ngàn Phố, nước đă rút, nhưng bùn đất vẫn còn dầy cỡ 2 gang tay trong nền nhà chưa được dọn.

Ông già đau khổ tên Hà Ngọc Ðàm, 70 tuổi. Ðau khổ hằn sâu trên nét mặt. Cực nhọc đã tiêu hết chất mỡ trên cơ thể đến độ người ông chỉ còn da bọc xương với một chút cơ bắp héo hon. Da cằn cỗi, nhãn nheo nhưng những ngón tay thì rất to và sần sùi chứng tỏ sự lam lũ quá sức của ông!

Vợ ông Ðàm là bà Loan, thua ông 6 tuổi. Bà Loan có vẻ mập, nhưng nhìn kỹ thì đúng là người bị bệnh nặng.  Bà vừa nói vừa ôm ngực ho một tràng dài, bà bị bệnh thận nên phù thũng. Nước da xanh nhợt nhạt rất khó tả, nhìn không có sinh khí, suy kiệt nặng. Bà vừa nói vừa thở dốc. Bà bị đói lâu ngày và bệnh nặng nên cơ thể suy kiệt trầm trọng. Ngồi nói chuyện một chút, bà hụt hơi phải kêu con gái dìu vô nằm. Đă mấy năm nay gần như bà nằm trên giường.

Tôi lại một phen kinh ngạc khi nhìn thấy cô con gái của ông Ðàm! Ðó là Hà Thị Tú, lúc đó 18 tuổi - tuổi bẻ gãy sừng trâu, nhưng sao cô bé có vẻ xanh xao và yếu mệt đến thế? Trong bóng hoàng hôn, tôi quan sát kỹ và nghĩ là Tú bị bệnh nặng. Hỏi thì Tú cho biết: ” Con bị bệnh gì mà rất mệt mỏi, luôn khó thở, nhất là khi gắng sức. Nhiều khi đi học về đói bụng và mệt con tưởng bước không nổi. Từ nhà ra đường phải leo dốc, con muốn hụt hơi, chóng mặt muốn xỉu. Không biết con có đủ sức theo học nữa không?”.

Tú đang học lớp 11. Ước mơ cháy bỏng của Tú là học hết cấp 3 rồi đi học nghề kiếm việc làm để thoát khỏi cảnh khốn khó. Và Tú là niềm hy vọng lớn nhất, niềm hy vọng còn lại duy nhất của gia đình họ. Có lẽ ông bà già này còn gượng sống là bởi niềm hy vọng của họ: được tận mắt thấy tương lai của đứa con gái út sẽ khá hơn cuộc đời cơ khổ cơ hàn của cha mẹ!

Sau khi hỏi Tú, tôi đoán em bị bệnh Tim. Sáng hôm sau tôi lại đến để biết rő hơn về hoàn cảnh gia đình và bệnh tật của Tú. Tôi nghĩ em bị căn bệnh hẹp van tim, gây khó thở, thiếu máu, thiếu dưỡng khí vì rối loạn tuần hoàn máu. Căn bệnh này nếu không được phẫu thuật thì Tú không sống được bao lâu nữa, và trước mắt là em sẽ không đủ sức khỏe để đi học. Từ nhà đến Trường Trung học phổ thông Cao Thắng nơi Tú học hơn 10 km, em không thể đi bộ nên người cha phải mua cho một chiếc xe đạp cũ. Nếu Tú không đi học được nữa thì gia đình họ sẽ như thế nào? Khi những con người đă chịu quá nhiều đau khổ và gần như tuyệt vọng mà niềm hy vọng cuối cùng biến mất thì họ suy sụp như thế nào và có sống nổi không? Cha mẹ Tú làm sao có tiền để đưa em đi khám bệnh và phẫu thuật? Nét mặt thơ ngây của Tú sẽ biến đổi như thế nào khi em biết mình khó mà vượt qua được căn bệnh trầm kha?

Ðó là những suy nghĩ làm tôi ray rứt. Gia cảnh nhà Tú thật thương tâm. Ông Ðàm và bà Loan có 6 người con. Con trai lớn là Hà Ngọc Trường sinh năm 1969, đã có vợ con, đang tha phương cầu thực ở miền Nam.

Con gái thứ 2 là Hà Thị Hương đã được gả chồng từ năm 17 tuổi - phải gả chồng sớm để bớt một miệng ăn trong nhà! Hương có 2 cậu con trai, nhà tạm đủ ăn. Nhưng thật bất hạnh, chồng Hương vừa mới qua đời do tai nạn giao thông! Bị nạn phải đưa đi Hà Nội cứu chữa, khi mọi đồ đạc trong nhà đều đã bán hết để chạy chữa thì chồng lìa trần! Cột trụ trong nhà đă mất, nợ nần ngập đầu và phải vay mượn tiền cứu chữa cho chồng, hai con còn dại, Hương ôm con khóc chảy máu mắt!

Hà Thị Hải sinh năm 1973 là con thứ 3, sau khi lấy chồng thì dắt nhau vô Lâm Ðồng làm thuê, đã mấy năm nay chưa về nên cha mẹ không biết số phận như thế nào.

Con gái thứ 4 là Hà Thị Hoài, bỏ nhà trốn đi đã 3 năm không thấy tăm hơi! Hoài là một đứa con ngoan của gia đình. Nhưng vì quá nghèo nên ít được học hành, phải lấy chồng sớm. Chồng Hoài là một gã đàn ông vũ phu hết chỗ nói. Hắn hành hạ cô hàng ngày. Ðánh đến ngất xỉu rồi ném ra ngoài sân. Như thế chưa đủ, hắn múc nước xối lên người làm Hoài tỉnh lại để đánh tiếp!

Hoài buôn bán rau ngoài chợ, còn hắn thì ham mê rượu chè. Sau nhiều trận đòn gần chết, Hoài phải ôm đứa con 2 tuổi đi trốn trong đêm. Hắn không buông tha, đã khăn gói đi kiếm Hoài suốt mấy tháng trời ở Hà Nội, Thanh Hóa...nhưng không thấy. Hoài trốn ở xứ nào chẳng ai biết đuợc. Lâu lâu cô gửi về lá thư báo cho cha mẹ biết là vẫn còn sống, đang làm thuê kiếm tiền nuôi con ở xa.

Nhưng chưa phải như thế là hết. Số phận cô con gái thứ 5 còn đáng thương hơn! Hà Thị Tình, sinh năm 1982. Gia đình ông Đàm sinh sống nhờ vào quán bán nước nhỏ gần nhà và nghề sửa xe đạp của ông. Một buổi trưa của năm 1997, Tình đang coi quán cho cha về ăn cơm thì bị một gã yêu râu xanh hăm hiếp ngay tại quán! Lúc đó Tình mới 15 tuổi. Sau vụ cưỡng bức đó Tình có thai rồi sinh một đứa con gái. Quá đau đớn và tủi nhục, sau khi sinh con để lại cho ông bà Đàm nuôi, Tình bỏ xứ ra đi! Tình phiêu bạt nhiều nơi, sau đó tìm được việc làm thuê rửa chén cho một quán ăn ở Hà Nội.

Tình thật thà và chịu khó, nên được con trai chủ quán đem lòng yêu thương. Cô không dấu anh ta về gia cảnh và cuộc đời tủi nhục của mình. Họ thật lòng yêu thương nhau và năm 2003 thì làm đám cưới. Chồng hơn Tình 3 tuổi. Gia đình nhà chồng cũng thương và ủng hộ cuộc hôn nhân này.

Tưởng số phận đã mỉm cười với Tình khi cô có một cuộc hôn nhân hạnh phúc với sự ra đời của đứa con gái năm 2004. Nhưng tháng 2/2005 chồng Tình đă chết vì tai nạn giao thông! Khi nghe tin này ông bà Đàm đă nằm liệt giường một thời gian.

Hà Thị Tú là con gái út. Cả 5 anh chị em của Tú đều không ai được học cấp 3, vì đông con và nghèo. Tú ngoan ngoãn và học giỏi nhất nhà, nên ông bà Đàm đặt tất cả niềm hy vọng vào em. Dù rất khó khăn và chịu đựng quá nhiều đau khổ, nhưng ông Đàm vẫn quyết tâm cho Tú đi học cấp 3.

Cuối năm 2002, tôi quay trở lại nhà Tú, thấy em tỏ ra mệt mỏi nhiều hơn. Tôi đã khuyên em cố gắng để theo học. Hứa với em đến kỳ nghỉ hè sẽ giúp em đi khám và chữa bệnh. Lúc đó Tú đang học lớp 11.

Tháng 6/2003, tôi đă giúp Tú đi khám ở Vinh và Hà Tĩnh. Cả 2 nơi bác sỹ đều chẩn đoán Tú bị bệnh tim - căn bệnh hẹp van tim này nếu không được mổ sẽ đe dọa tính mạng của em! Nhưng cha mẹ Tú thì không thể kiếm đủ tiền cho em đi Huế khám, chưa nói đến chi phí mổ hàng chục triệu đồng! Tôi đă liên lạc và nhờ chị Diệu Liên giúp đỡ. Chị Diệu Liên từ Canada về đang ở Huế, đă có nhiều chương trình từ thiện ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Sau khi xảy ra cơn lũ quét khủng khiếp ở Hương Sơn, Hà Tĩnh, chị Diệu Lięn đă quyên góp được khá nhiều tiền và nhờ Ni Sư Như Minh đến đây cứu trợ bà con bị nạn.

Nhờ sự tận tâm của chị Diệu Liên, tháng 7/2003 Tú được phẫu thuật tại Bệnh viện Trung ương Huế trong chương trình từ thiện của “ Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời ”. Quý ân nhân đă giúp Tú thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo và em đă hồi phục sức khỏe tốt.

Sau đó Tú tiếp tục đi học. Hết lớp 12, Tú thi vào Trường Trung học Y tế Hà Nội. Tú cho biết: “ Nhờ tình thương của quý bác và các anh chị đă cứu con qua khỏi căn bệnh hiểm nghčo nên con có ước nguyện đi học nghề Y tá để mong rằng trong công việc sinh sống của con, con có thể phục vụ và đem tình thương đến cho những bệnh nhân nghèo”.

Tháng 10/2004, Tú đă được vào Trường Trung học Y tế Hà Nội. Em đang theo học lớp Y tá điều dưỡng. Gia cảnh nghèo khổ, mẹ già bệnh ngày càng nặng; cha vẫn phải khom lưng bơm xe đạp bên đường để kiếm tiền nuôi Tú ăn học…

Phan Đăng Hòe - 2005

Trở Lại Đầu Trang

Cầu Hiểu Cầu Thương

Ðáp xuống sân bay Nội Bài. Anh Hoan, giám đốc công ty vật liệu xây dựng cho xe và tài xế đón Diệu Liên tại phi trường và đưa về Vinh cùng ngày để chuẩn bị chuyến phát quà và học bổng cho 55 học sinh mồ côi. Anh Hoan đã âm thầm ủng hộ chương trình từ thiện bằng cách tạo phương tiện cho chúng ta làm việc được dể dàng và bán vật liệu cho các chương trình nâng cao cơ sở vật chất của chúng ta với giá ủng hộ tối đa.

Một số cô hiệu trưởng tại địa phương đã đến phụ chúng tôi vào ngày Chủ Nhật để sắp xếp công việc. Sáng thứ Hai tôi cùng 2 anh Hoè và anh Hiệp lên đường. Ðầu tiên, xe chúng tôi đến xã Hưng Yên, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, nơi mà danh sách học sinh mồ côi từ các trường gởi đến dài hơn cả thước. Vì sao vậy, đó là câu hỏi đã đưa đường dẫn lối cho chúng tôi tìm đến vùng đất khô cằn sỏi đá nầỵ

Xã Hưng Yên nằm dọc theo những dãy núi cao và rậm. Con đường dẫn vào làng chạy quanh co theo chân núi dầy bùn lầy thật khó đi vì dể trượt. Dân chúng ở đây sống bằng nghề khẻ đá núi để làm đường. Tai nạn lao động do những khối đá lăng xuống đè chết công nhân đường lộ, đã cướp mất đi nhiều người cha của những trẻ thơ vô tội.

Vì thấu hiểu được sự thiếu thốn qua lá thư của em Phạm Sĩ Thắng: “ …. có những hôm em phải nhịn đói để tới trường vì mẹ chưa về, không những ăn đói mà mặc rét, em chỉ thích mùa hè không thích mùa Xuân, mùa Ðông bởi áo ấm cũng như áo mới chẳng bao giờ nghĩ tới…” đã gợi cho chúng tôi ý nghĩ tặng các em những món quà cần thiết cho sinh hoạt hằng ngày.

Chúng tôi đã đến thăm 5 trường - Nam Yên, Bắc Yên, Hưng Mỹ và Hưng Xuân và trường mầm mon Hưng Thông - để trao quà tận tay các em. Chụp hình khi mỗi em được nhận quà và sẽ gởi về quý ân nhân đóng góp thay thư cám ơn. Ban giám hiệu nhà trường, các phụ huynh cùng học sinh đã xúc động trước tình cảm và sự quan tâm sâu sắc của chúng ta từ những món quà thiết thực. Kinh nghiệm thực tế qua sự tìm hiểu trực tiếp những khó khăn của học sinh khi chúng tôi vào thăm từng lớp, được xem tận mắt những cuốn sách giáo khoa, tập vở, bút mực, cặp táp, áo quần của học sinh. Chúng tôi được biết rằng có nhiều em đi học mà không có tập vở và bút vì cặp táp đã bị rách nát như tương, không giữ được những gì cất trong cặp. Cô giáo đi dạy phải mang theo bút để đầu giờ cho các em mượn học rồi thu lại vào cuối giờ. Một số các em thiếu sách giáo khoa, phải học chung với bạn, khi chúng tôi hỏi: “Em nào thiếu sách giáo khoa” thì không thấy những cánh tay đưa lên. Hỏi ra mới hiểu, chỉ vì các em sợ nếu không có sách học thì cô giáo không cho vào lớp học. Học chung sách của bạn thì việc học của các em cũng bị hạn chế. Nhưng các em vẫn chịu đựng, với khuôn mặc xanh xao, đầu cúi xuống tránh đôi mắt nhìn của mọi người, im lặng và âm thầm trong chiếc vỏ sò của riêng mình, để ngày qua ngày được đi học, được đến trường như bao bạn cùng lứa tuổi. 

Các cô thầy giáo trong ban giám hiệu đã lo ngại mỗi khi chúng tôi ôm các em vào lòng, hôn lên mái tóc dày vì dơ bẩn. Những khuôn mặt xanh xao, đôi mắt thiếu tự tin, mặt mày lem luốt, chỉ một bộ áo quần dính trên người, sáng đi học chiều về chăn trâu, bộ áo quần đã nhăn nheo xếp nếp và xách hỏng lên quá mắc cá, mảng vải che thân áo không ra áo quần không ra quần, chiếc dép đã mầt đi một khúc, làm sao chúng tôi không xót lòng. Các cô giáo sợ các em dơ và hôi qua sẽ làm chúng tôi khó chiụ, nhưng các cô đâu biết rằng chúng tôi đã phải đi nữa vòng trái đất để tìm đến trẻ thơ bất hạnh, mong chia sẽ tình thương và niềm tin cho cuộc đời.

Nghe cô hiệu trưởng kể lại rằng sau chuyến viến thăm các em gọi chúng tôi là cô “Mặt Trời”. Cô “Mặt Trời” chắc chắn sẽ trở lại thăm các em khi xin được tài trợ để mua thêm sách vở, xin áo quần củ từ Sài Gòn, nhờ trường dạy nghề miễn phí Tây Linh đan áo len và may màng. Mỗi bộ sách giáo khoa lờp 1 và 2 giá 80,000$ ($5 US, $7 Cad), bộ sách giáo khoa lớp 3, 4 và 5 gía 45,000$ VN ( $3 Us, $ 4 Cad), màng và áo len mỗi cái 25,000$ VN – không tính tiền công ( $ 1.5 Us, $ 2 Cad).  

Qua rồi cầu Hiểu đến cầu Thương: Có lẽ tôi tiếp xúc được với cái lạnh, cái đói và cái khổ qua lời tâm sự của em Thắng, học sinh lớp 5 C trường Hưng Ðạo, mồ côi Cha từ lúc còn tấm bé là vì tôi cũng đã từng sống trong hoàn cảnh đó. Thắng gởi thư cho cô Oanh, người luôn quan tâm về tương lai của những trẻ thơ thiếu may mắn. Ðọc thư em trong đêm Ðông xứ tuyết Canada, rồi trằn trọc suốt đêm không ngủ, nằm hồi tưởng lại tiếng sóng vỗ vào bờ biển đảo Hải Nam trên hai mươi năm về trước trong những ngày vượt biển. Tôi còn nhớ, những ngày lang thang trên biển, đã nhiều đêm tôi nằm úp người trên cát, lấy sương khuya làm màng, gió buốt xé da làm chăn che lấy thân hình nhỏ bé. Những đêm dài tưởng chừng như không còn sức chịu đựng để đón chào bình minh. Lạnh và đói, sợ hải và tuyệt vọng đã ám ảnh tôi nhiều năm sau khi được định cư tại Canada. Vâng nhiều năm về sau, tôi vẫn còn những đêm nằm cuộn mình trong chăn ấm nghĩ đến những người thiếu ăn thiếu mặc mà khóc thầm trong đêm thâu. Tôi thường mơ ước sẽ có ngày mình được đem từng chiếc mền chiếc áo trao tận tay người cần đến nó, được đắp chiếc chăn ấm lên cụ già bệnh hoạn nằm co trong mái tranh nghèo phên đất không người thân, được chăm sóc các em bé thơ ngây mắt ngơ ngát nhìn vào cuộc đời với bao khuôn mặc lạ  … và nhiều ước mơ bé nhỏ khác nữa. Hôm nay tôi rất hạnh phúc vì ước mơ của tôi đã thành sự thật. Giất mơ nầy không thể thực hiện được nếu không có tình yêu thương của người chồng chịu nhiều hy sinh, của những người bạn sẳn sàng góp mặt trong mọi hoàn cảnh vui buồn, và dĩ nhiên không thể thiếu các ân nhân nhiệt tình ủng hộ mà tôi chưa một lần gặp mặt.

Rác đã biến thành Hoa, Phiền Não đã chuyễn hóa thành Bồ Ðề, niềm khổ đau trong tôi là chất liệu “Hiểu và Thương” đưa tôi đến cuộc sống hạnh phúc chân thật.

Từng bước chân thảnh thơi

Nụ cười tươi thắm trên làn môi

Từng đám mây ngang trời

Là dòng sông chảy ra biển khơi

Nguồn khổ đau dịu vơi

Từng bước chân thảnh thơi

Cùng người em bước như dạo chơi …

… Cùng người em bước đi mọi nơi

Tôn Nữ Diệu Liên

Huế - những ngày Xuân 2004

Trở Lại Đầu Trang